Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE PHÁP LUẬT DOI VOI CONG CHUC TU PHAP - HO TICH CAP XA 1. Khái niệm công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã 11. Khai niệm và đặc diém: Khi đề cập đến khái niệm “công chức” thông thường chúng ta xác định đó là một bộ phận cầu thành không thé thiếu được của nền hành chính quốc gia. Tuy nhiên, lịch sử cách mạng dân tộc, lịch sử hình thành và đặc điểm tổ chức của hệ thống chính trị của nước ta đã quy định những điểm khác biệt về công chức.
Công chức ở nước ta không chỉ làm việc trong bộ máy hành chính, trong khối các cơ quan hành chính nhà nước mà công chức còn làm việc trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đó là Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tô quôc Việt Nam và các tô chức chính trị - xã hội thành viên. Luật cán bộ, công chức năm 2008 phân biệt công chức với công chức cấp xã. Cụ thể tại khoản 2 Điều quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyên dụng, bồ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vi thuộc Công an nhân dân mà không phải là si quan, ha si quan chuyên nghiệp va trong bộ máy lãnh đạo, quản ly của đơn vi sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vi sự nghiệp công lập thì lương được bao đảm từ quỹ lương của don vi sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Trong khi, khoản 3, Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định về công chức cấp xã như sau: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhán dán cap xã, trong biên chê và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Nếu khái niệm “công chức” ở nước ta có phạm vi rộng hơn rất nhiều so với cách hiểu thông thường là công chức gắn với hoạt động quản lý nhà nước và hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước hay các cơ quan nhà nước. Thì công chức cấp xã lại chỉ bao gồm những người đang làm việc tại Ủy ban nhân dân cấp xã, là cơ quan hành chính nhà nước. Như vậy, so với khái niệm công chức thì khái niệm công chức cấp xã có phạm vi hẹp hơn. Điều này xuất phát từ đặc điểm tô chức hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước ở cấp xã.
Ở cấp này chỉ còn Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân,các cơ quanTòa án, Viện Kiểm sát không được tô chức ở cấp xã; Ủy ban nhân dân cấp xã không có các cơ quan chuyên môn giúp việc như Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện. Cụ thể hóa Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phường, thị tran và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, quy định tại khoản 2, Điều 3 về các chức danh công chức cấp xã, gồm: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị tran) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tw pháp - hộ tịch; Văn hoá - xã hội. Công chức Tư pháp - hộ tịch là một chức danh công chức cấp xã. Có thé phát biểu khái niệm công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã /à công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ chức danh Tư pháp - hộ tịch thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức Tư pháp - hộ tịch cap xã có những đặc diém cơ bản của đội ngũ công chức nói chung đông thời lại có những đặc điêm riêng xuât phat từ vi trí, vai trò của chính quyền cap xã trong nên hành chính quôc gia. Công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã được hình thành thông qua con đường tuyển dụng với tiêu chuẩn được pháp luật quy định phù hợp với chức danh chuyên môn (Tư pháp - hộ tịch), thuộc biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Đó là những đặc điểm chung của công chức nói chung. Ngoài những đặc điểm chung nêu trên, công chức Tư pháp - hộ tịch câp xã có một sô đặc điêm riêng biệt sau: Thứ nhất, công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã được hình thành thông qua con đường tuyển dụng, được giao giữ chức danh chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã và thuộc biên chế của Ủy ban nhân dân cấp xã.
Đây là đặc điểm cho thấy sự khác biệt của công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã với những người cũng làm việc ở cấp xã nhưng không được giao giữ một trong số các chức danh công chức ở cấp xã, ví dụ những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, những người này công việc mang tính chất kiêm nhiệm. Trong khi công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã được hưởng lương thì những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã chỉ được hưởng chế độ phụ cấp mà không phải lương. Thứ hai, xuat phát từ đặc diém tô chức của Uy ban nhân dân cap xã không có các cơ quan chuyên môn giúp việc giông như các câp chính quyên khác, nên công chức Tư pháp - hộ tịch câp xã là chức danh chỉ có ở câp xã, trong các cấp chính quyền khác không có chức danh này. Thứ ba, từ tên gọi của chức danh đã cho thấy hai mảng công việc chuyên môn chính mà công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã thực hiện thường xuyên, ôn định đó là các công việc liên quan đến tư pháp và hộ tịch.
Cụ thê hơn đó là thực hiện việc tự kiểm tra các văn bản do Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành; rà soát, hệ thống hóa văn bản do Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân 10 dân cấp xã ban hành; theo dõi tình hình thi hành pháp luật tại địa phương; tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch phổ biến, giáo dục pháp luật; quan lý, khai thác, sử dụng Tủ sách pháp luật ở cấp xã; tô chức thực hiện pháp luật về hòa giải ở cơ sở; thực hiện đăng ký hộ tịch và nuôi con nuôi theo quy định của pháp luật, quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao Trích lục hộ tịch; quản lý, sử dụng, lưu trữ Số hộ tịch, biéu mẫu hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định; thực hiện cấp bản sao từ số sốc, chứng thực ban sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp hoặc chứng nhận; chứng thực chữ ký trong các giấy tờ, văn bản (trừ việc chứng thực chữ ký người dịch);. Thứ tw, vì làm việc và phục vụ trong chính quyén cấp cơ sở nên có thé thấy công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã phải thực hiện nhiều vai trò khác nhau trong thực hiện nhiệm vụ tại địa phương. Trước hết họ cũng là một công dân có nhu cầu thực hiện các thủ tục tư pháp - hộ tịch của chính bản thân; họ có thể là bà con, họ hàng hay người quen của người mà họ thực hiện các công việc về hộ tịch; họ cũng có thê là người đại diện của cộng đồng dân cư nơi sinh sống và họ cũng là đại diện cho Nhà nước trong thực thi công vụ. Những vai trò này vừa có tính thông nhất vừa có tính mâu thuẫn, xung đột trong mỗi hoàn cảnh, ít nhiều có tác động, chi phối hoạt động công vụ của họ, nhất là trong việc giải quyết những vấn đề có liên quan đến mối quan hệ giữa các lợi ích cá nhân - cộng đông - Nhà nước.
Những đặc điểm riêng có trên đây một mặt là căn cứ để cho thấy sự khác biệt của công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã với công chức nói chung; mặt khác đó còn là những co sở quan trọng dé có chính sách, giải pháp nhằm năng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ của đội ngũ này nhằm đáp ứng yêu câu công việc của chức danh. Vai trò của công chức Tw pháp - hộ tịch cấp xã Là công chức làm việc trong chính quyền cấp cơ sở, vai trò của công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã được thể hiện rõ trên hai phương diện: vai trò của họ đối với nhà nước mà trực tiếp là đối với Ủy ban nhân dân cấp xã và vai trò của họ trong mối quan hệ phục vụ nhân dân. Trước hết, vai trò của công chức Tư pháp - hộ tịch cấp xã gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong lĩnh vực tư pháp, hộ tịch được giao.