Chương I, Thông tư Số: 06/2012/TT-BNV ngày 30 tháng 10 năm 2012 của Bộ Nội vụ quy định về tiêu chuẩn cụ thể của công chức xã, phường, thị trấn như sau: - Công chức cấp xã phải có đủ các tiêu chuẩn chung quy định tại Điều 3 Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là Nghị định số 112/2011/NĐ-CP) và các tiêu chuẩn cụ thể sau: + Độ tuổi: Đủ 18 tuổi trở lên; + Trình độ văn hóa: Tốt nghiệp trung học phổ thông; + Trình độ chuyên môn: Tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp trở lên của ngành đào tạo phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ của chức danh công chức được đảm nhiệm; + Trình độ tin học: Có chứng chỉ tin học văn phòng trình độ A trở lên; + Tiếng dân tộc thiểu số: Ở địa bàn công tác phải sử dụng tiếng dân tộc thiểu số trong hoạt động công vụ thì phải biết thành thạo tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác đó; nếu khi tuyển dụng mà chưa biết tiếng dân tộc thiểu số thì sau khi tuyển dụng phải hoàn thành lớp học tiếng dân tộc thiểu số phù hợp với địa bàn công tác được phân công; 15 Luan van + Sau khi được tuyển dụng phải hoàn thành lớp đào tạo, bồi dưỡng quản lý hành chính nhà nước và lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị theo chương trình đối với chức danh công chức cấp xã hiện đảm nhiệm. Năng lực công chức Tƣ pháp – Hộ tịch cấp xã 1. Khái niệm năng lực công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã a. Năng lực và các yếu tố cấu thành năng lực Năng lực của con người là một vấn đề quan trọng, có liên quan đến công tác nhân sự nói chung và đặc biệt là công tác quản lý, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ công chức nhà nước.
Hiện nay theo mục tiêu cải cách hành chính, việc tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức là một trong những nhiệm vụ quan trọng của các cơ quan trong bộ máy hành chính nhà nước. Nhiệm vụ đó đòi hỏi phải đánh giá năng lực của công chức và trên cơ sở của việc đánh giá đó mới có thể đưa ra một phương án phù hợp để sử dụng. Thực tế, việc tinh giản biên chế vừa qua cho thấy, nhiều trường hợp công chức bị đánh giá là không đủ năng lực. Tại sao như vậy, có lẽ nguyên nhân chính là do khái niệm năng lực chưa được xác định rõ.
Việc sử dụng thuật ngữ năng lực đã vận động theo thời gian và không có cách hiểu thống nhất trong cộng đồng các nhà khoa học về thuật ngữ này. Theo định nghĩa trong Bách Khoa toàn thư Việt Nam thì: “Năng lực là đặc điểm của các cá nhân thể hiện mức độ thông thạo – tức là có thể thực hiện một cách thành thục và chắc chắn – một hay một số dạng hoạt động nào đó. Năng lực gắn liền với những phẩm chất về trí nhớ, tính nhạy cảm, trí tuệ, tích cách của cá nhân. Năng lực có thể phát triển trên cơ sở năng khiếu (Đặc điểm sinh lý của con người, trước hết là của hệ thần kinh trung ương), song không phải là bẩm sinh, mà là kết quả phát triển của xã hội và của con người ( Đời sống xã hội, sự giáo dục và rèn luyện, hoạt động của cá nhân)”.
Dưới góc độ tâm lý học thì năng lực là “Tổng hợp những thuộc tính độc đáo của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất 16 Luan van định nhằm đảm bảo việc hoàn thành có kết quả tốt lĩnh vực hoạt động ấy”. Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học thì năng lực được hiểu là: “Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. Hoặc theo một nghĩa khác, năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao”. Trong cuốn Thuật ngữ Hành chính của Viện nghiên cứu khoa học Hành chính thuộc Học viện Hành chính Quốc Gia tái bản năm 2009 có nêu định nghĩa về năng lực là: “Khả năng về thể chất và trí tuệ của con người, hoặc khả năng của tập thể có tổ chúc tự tạo lập và thực hiện được các hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội, nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ do mình đặt ra hoặc do Nhà nước hay chủ thể ấn định với kết quả tốt nhất” Theo Giáo trình Tâm lý học đại cương – Bộ giáo dục và đào tạo – nhà xuất bản Giáo dục 1998 và Giáo trình Tâm lý học quản lý của Học viện Hành chính Quốc gia thì năng lực có thể chia thành hai loại sau: - Năng lực chung: là năng lực cần thiết có trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau, chẳng hạn những thuộc tính về thể lực, trí tuệ, là những điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều lĩnh vực hoạt động có kết quả trong có có lĩnh vực quản lý.
- Năng lực chuyên biệt: là sự thể hiện độc đáo các phẩm chất riêng biệt, có tính chuyên môn nhằm đáp ứng các yêu cầu của một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt với kết quả cao như năng lực quản lý, năng lực giao tiếp hành chính. Tuy có nhiều cách diễn đạt khác nhau nhưng tất cả có thể đi đến một quan điểm chung về năng lực : “Năng lực là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ cho phép một cá nhân thực hiện các hoạt động gắn với nhiệm vụ của mình ở một cấp độ hiệu suất nhất định”. Như vậy khái niệm năng lực gắn liền với lĩnh vực chuyên môn hoặc công việc nào đó, nó là một khái niệm mang tính chất tổng hòa các yếu tố, từ khả 17 Luan van năng nội tại của mỗi người, đến quá trình đào tạo cũng như sự tiếp thu vận dụng kiến thức của mỗi người vào việc thực thi công việc nhất định. Năng lực công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã Nói đến năng lực thực thi công vụ của công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã là nói đến khả năng thực tế giải quyết công việc, khả năng sử dụng các công cụ như chính sách, pháp luật và các phương tiện quản lý của công chức Tư pháp- Hộ tịch cấp xã nhằm đảm bảo thực hiện các nhiệm vụ được Ủy ban nhân dân xã giao cho một cách có hiệu quả.
Theo đó, năng lực thực thi công vụ của công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã được xác định thông qua: - Kiến thức của công chức Tư pháp- Hộ tịch xã cần phải làm để có thể hoàn thành công việc được giao. - Những kỹ năng của công chức Tư pháp - Hộ tịch xã cần có để thực thi công việc được giao. - Những hành vi, cách ứng xử của công chức Tư pháp - Hộ tịch cần có để thực thi công việc được giao. Sự kết hợp của 3 nhóm yếu tố trên trong quá trình thực thi công vụ để đạt được kết quả theo yêu cầu.
Các yếu tố cấu thành năng lực công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp xã 1. Trình độ Trình độ của đội ngũ công chức là mức độ đạt được trong học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học và quản lý nhà nước. Trình độ của công chức được thể hiện thông qua văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận về trình độ đào tạo ở trường lớp và qua kiến thức, kinh nghiệm xã hội mà người công chức tích lũy và học hỏi được trong cuộc sống. Căn cứ vào đặc thù hoạt động và phạm vi lĩnh vực công tác, công chức cần có những loại trình độ sau: 18 Luan van - Trình độ học vấn là mức độ đạt được trong hệ thống trình độ kiến thức phổ thông.
Đây là hệ thống kiến thức phổ thông về tự nhiên, xã hội làm nền tảng cho nhận thức, tư duy và hoạt động của con người. Trình độ học vấn không phải yếu tố quyết định đến toàn bộ năng lực và hiệu quả làm việc nhưng là yếu tố cơ bản để đánh giá năng lực và hiệu quả hoạt động của đội ngũ công chức. Hạn chế về trình độ học vấn sẽ làm hạn chế khả năng của công chức trong các hoạt động như : khả năng tiếp thu, lĩnh hội đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước, sự chỉ đạo của cấp trên, hạn chế năng lực triển khai, kiểm tra, đôn đốc thực hiện nhiệm vụ. - Trình độ chuyên môn là mức độ đạt được về những kiến thức, khả năng, kỹ năng của mỗi người công chức trong một ngành nghề, một lĩnh vực nhất định.
Đây là kiến thức trực tiếp phục vụ cho công việc chuyên môn của công chức, những người thực hiện một công vụ thường xuyên trong cơ quan hành chính nhà nước. - Trình độ lý luận chính trị là mức độ đạt được về nhận thức những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chế độ xã hội, bản chất của Nhà nước, chủ trương, đường lối, chính sách về vai trò, sứ mệnh của Đảng cộng sản đi lên Chủ nghĩa xã hội, trình độ lý luận chính trí, kiên định mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mà Đảng và Nhà nước đã chọn. - Trình độ tin học là mức độ đạt được về kiến thức, những kỹ năng trong lĩnh vực tin học. Ngày nay, khi mà công nghệ thông tin phát triển vượt bậc, việc trang bị những kiến thức tin học ngày càng trở nên cấp thiết.
Khi có kỹ năng tin học mọi công việc của công chức sẽ trở lên dễ dàng thuận tiện hơn nhờ hệ thống thiết bị điện tử là máy tính và mạng internet, đem lại năng suất và hiệu quả công việc thiết thực. - Trình độ ngoại ngữ là mức độ đạt được về sự thông thạo ngoại ngữ. Khi mà toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng gia tăng, công chức 19 Luan van cần phải có ngoại ngữ để không bị tụt hậu, ngày càng trở nên năng động, thích ứng với nhiều môi trường đa dạng, học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới để áp dụng nâng cao hiệu quả cho nền hành chính nước nhà. Ngoài kiến thức, trình độ được đào tạo thông qua lớp học, mỗi công chức cấp xã phải trang bị cho mình kiến thức hiểu biết về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội và đường lối của Đảng, chính sách, cải cách hành chính của Nhà nước.