Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh phải đối mặt với môi trường cạnh tranh đòi hỏi sự tự chủ về tài chính, tự quản lý và bảo toàn nguồn vốn. Công tác hạch toán kế toán nói chung và kế toán chi phí vật tư nói riêng đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát giá thành sản phẩm và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất. Đối với các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất, do đó việc tổ chức thu mua, bảo quản, dự trữ và hạch toán chính xác nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ (NVL, CCDC) là yêu cầu cấp thiết nhằm tránh thất thoát, lãng phí và hạ giá thành sản phẩm.

Xuất phát từ thực tiễn trên, chuyên đề nghiên cứu tập trung giải quyết vấn đề tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ tại một đơn vị sản xuất thực tế. Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể bao gồm:

  1. Tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển, cơ cấu tổ chức quản lý và đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất của đơn vị thực tập.
  2. Khảo sát thực trạng tổ chức công tác kế toán tại đơn vị, trọng tâm là kế toán chi tiết và kế toán tổng hợp nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ.
  3. Đánh giá những ưu điểm, chỉ rõ những mặt hạn chế, tồn tại trong công tác hạch toán vật tư tại doanh nghiệp.
  4. Đề xuất các giải pháp mang tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý và hạch toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phù hợp với quy mô và lộ trình đổi mới của đơn vị.

Đối tượng nghiên cứu của chuyên đề là các nghiệp vụ kinh tế phát sinh liên quan đến thu mua, nhập, xuất, dự trữ và kiểm kê nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ cùng hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán phản ánh các nghiệp vụ này. Phạm vi nghiên cứu về không gian được thực hiện tại Xí nghiệp gạch ngói Hồng Thái (địa chỉ tại thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang). Phạm vi thời gian khảo sát tập trung vào số liệu thực tế Quý IV năm 2002 và 3 tháng đầu năm 2003.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Chuyên đề được xây dựng dựa trên chế độ kế toán doanh nghiệp Việt Nam ban hành theo các văn bản pháp quy hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:

  • Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 của Bộ Tài chính về việc ban hành chế độ kế toán doanh nghiệp.
  • Quyết định số 999-TC/QĐ/CĐKT ngày 02/11/1996 của Bộ Tài chính về hệ thống chứng từ và sổ kế toán.

Khung lý thuyết vận dụng bao gồm:

  • Phương pháp tính giá nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ: Xác định giá thực tế nhập kho (giá mua ghi trên hóa đơn cộng chi phí thu mua, vận chuyển trừ chiết khấu, giảm giá) và phương pháp tính giá thực tế xuất kho theo phương pháp Nhập trước - Xuất trước (FIFO).
  • Phương pháp hạch toán tổng hợp hàng tồn kho: Phương pháp Kê khai thường xuyên (KKTX), áp dụng thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo phương pháp khấu trừ.
  • Phương pháp hạch toán chi tiết vật tư: Phương pháp Thẻ song song kết hợp việc theo dõi số lượng tại kho thông qua Thẻ kho và theo dõi cả số lượng lẫn giá trị tại phòng kế toán thông qua Sổ/Thẻ chi tiết vật tư.
  • Hình thức sổ kế toán: Hình thức Chứng từ ghi sổ.

Phương pháp nghiên cứu được tác giả sử dụng gồm phương pháp thu thập và xử lý số liệu chứng từ thực tế tại phòng kế toán xí nghiệp; phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu kế toán; phương pháp đối chiếu giữa lý thuyết hạch toán kế toán và thực tiễn áp dụng tại doanh nghiệp sản xuất. Nguồn dữ liệu sử dụng là các chứng từ gốc (Hóa đơn GTGT, Phiếu nhập kho, Phiếu xuất kho, Phiếu đề xuất vật tư, Phiếu thu, Biên bản giao nhận vật tư), các bảng kê phân loại tài khoản, Sổ chi tiết vật tư, Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ, Chứng từ ghi sổ và Sổ cái các tài khoản liên quan tại Xí nghiệp gạch ngói Hồng Thái trong tháng 10 năm 2002.

Nội dung chính theo từng chương

Phần I: Đặc điểm chung của Xí nghiệp gạch ngói Hồng Thái

Xí nghiệp gạch ngói Hồng Thái là doanh nghiệp Nhà nước độc lập, thành lập năm 1972 theo Quyết định số 80/QĐ-UB ngày 27/04/1972 của Ủy ban Hành chính tỉnh Hà Bắc. Đơn vị nằm ở vùng ngoại ô thị xã Bắc Giang, cạnh Quốc lộ 1A và tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn (cách thị xã Bắc Ninh 15 km về phía Nam, cách thị xã Bắc Giang 5 km về phía Bắc), nằm trên vùng có trữ lượng mỏ đất sét lớn thuận lợi cho sản xuất vật liệu xây dựng. Năm 1994, xí nghiệp đầu tư dây chuyền sản xuất gạch theo công nghệ lò đứng với công suất khoảng 24 triệu viên quy đổi/năm.

Chương này trình bày các chỉ tiêu tài chính, tài sản và lao động của xí nghiệp trong giai đoạn khảo sát:

Chỉ tiêu Đơn vị tính Quý IV/2002 3 tháng đầu năm 2003
Tổng doanh thu VNĐ 2.110 —
Lợi nhuận thực hiện VNĐ 314.887 —
Nộp ngân sách VNĐ 258.000 —
Tổng số lao động Người 288 290
Thu nhập bình quân VNĐ/người/tháng 413.900 —
Tổng số vốn VNĐ 18.300 —
- Vốn cố định VNĐ 11.529 —
- Vốn lưu động VNĐ 6.771 —

Cơ cấu tài sản cố định chủ yếu có tổng giá trị 11.452 VNĐ, gồm: 1 nhà cáng kính (1.316 VNĐ), 1 lò nung Tuynel (3.245 VNĐ), kho chứa than và kho chứa đất (175.400 VNĐ), 1 hầm sấy Tuynel (2.353 VNĐ), văn phòng làm việc (184.763 VNĐ). Tổng số lao động là 288 người, trong đó lao động trực tiếp là 270 người, lao động gián tiếp là 18 người (gồm 11 trình độ đại học và 7 trình độ trung cấp).

Cơ cấu tổ chức sản xuất gồm 3 phân xưởng và 1 đội xe - máy:

  1. Phân xưởng tạo hình: 2 tổ tạo hình (sản xuất gạch mộc), 1 tổ đảo cáng, 1 tổ cơ khí tạo hình.
  2. Phân xưởng nung sấy: Tổ xếp goòng, tổ lò (phụ trách hầm sấy và lò Tuynel), tổ than (nghiền và cấp than), tổ cơ khí nung sấy.
  3. Phân xưởng ra lò: Tổ ra lò (vận chuyển thành phẩm ra bãi) và tổ bốc xếp.
  4. Đội xe - máy: Tổ khai thác đất (trang bị 1 máy xúc, 1 máy ủi, 1 ô tô Mazben) và tổ xe vận chuyển.

Bộ máy kế toán được tổ chức tập trung gồm: Trưởng phòng kế toán (phụ trách chung, kế toán ngân hàng và TSCĐ), Kế toán vật tư và công cụ lao động nhỏ, Kế toán tiền lương và bảo hiểm xã hội, Kế toán tổng hợp kiêm kế toán tiền mặt, Kế toán bán hàng kiêm công nợ, Thủ quỹ, Thủ kho thành phẩm - vật tư - CCDC. Doanh nghiệp áp dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ.

Phần II: Thực trạng chung về công tác hạch toán kế toán vật liệu và công cụ dụng cụ tại Xí nghiệp gạch ngói Hồng Thái

Xí nghiệp phân loại vật tư phục vụ sản xuất gạch ngói thành các nhóm:

  • Nguyên vật liệu chính: Than bùn, than cám (than cám 6), đất sét.
  • Nhiên liệu và vật liệu phụ: Than tổ ong, xăng, dầu diezen, dầu nhớt HD 40+50, dầu công nghiệp 90, dầu CS 32, mỡ IC 2, mỡ chịu nhiệt.
  • Công cụ dụng cụ: Khẩu trang, quần áo bảo hộ lao động, găng tay, xẻng, xe cải tiến.

Về quy trình luân chuyển chứng từ:

  • Nhập kho: Khi mua ngoài (than cám từ Công ty Thương mại Tiền Phong, quần áo/khẩu trang từ Công ty TNHH P&V, dầu mỡ từ Doanh nghiệp tư nhân Tuyết Ly), sau khi kiểm nhận có Biên bản giao nhận vật tư giữa bên giao, thủ kho và cán bộ vật tư, kế toán lập Phiếu nhập kho (Mẫu số 01-VT) ghi nhận Nợ TK 152/153, Nợ TK 1331 và Có TK 331.
  • Xuất kho: Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật, các phân xưởng lập "Phiếu đề xuất vật tư" gửi phòng kỹ thuật kiểm tra trình Giám đốc duyệt, sau đó phòng kế toán lập Phiếu xuất kho (Mẫu số 02-VT) gồm 2 liên để thủ kho xuất vật tư và theo dõi. Đơn giá xuất kho tính theo phương pháp FIFO.
  • Thu hồi và xuất bán phế liệu: Xí nghiệp có phế liệu thu hồi là gạch vỡ nhưng không làm thủ tục nhập kho và không theo dõi qua sổ sách kế toán. Khi bán phế liệu, khách hàng nộp tiền trực tiếp tại phòng kế toán, kế toán lập Phiếu thu (Mẫu số 01-TT) và viết hóa đơn bán hàng cho khách nhận gạch tại bãi.

Về kế toán chi tiết: Áp dụng phương pháp Thẻ song song. Tại kho, thủ kho ghi chép số lượng trên Thẻ kho (Mẫu số 06-VT). Tại phòng kế toán, định kỳ 5-7 ngày thủ kho chuyển chứng từ lên; kế toán ghi chép số lượng và số tiền vào Sổ chi tiết vật tư (Mẫu số 17-VT). Thay vì dùng Bảng kê Nhập và Bảng kê Xuất riêng cho từng nhóm vật tư, xí nghiệp sử dụng "Bảng kê phân loại tài khoản" (Bảng kê Nợ TK 152, Có TK 152, Nợ TK 153, Có TK 153) để tổng hợp số liệu theo từng đối ứng tài khoản.

Về kế toán tổng hợp: Đơn vị sử dụng tài khoản 152 (Nguyên liệu, vật liệu), 153 (Công cụ, dụng cụ), 621 (Chi phí NVL trực tiếp), 627 (Chi phí sản xuất chung), 331 (Phải trả người bán), 133 (Thuế GTGT được khấu trừ), 138 (Phải thu khác), 821 (Chi phí bất thường). Các nghiệp vụ nhập, xuất được ghi vào Chứng từ ghi sổ, sau đó đăng ký vào Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ và vào Sổ Cái các tài khoản.

Về công tác kiểm kê: Thực hiện định kỳ vào cuối năm. Chênh lệch thiếu chưa xác định nguyên nhân được phản ánh tạm thời qua bên Nợ TK 138; hao hụt trong định mức hạch toán Nợ TK 621/627, Có TK 152/153; chênh lệch thừa phản ánh Có TK 138, Nợ TK 152/153.

Phần III: Nhận xét, đánh giá, kiến nghị và đề xuất về công tác kế toán vật liệu và công cụ dụng cụ tại Xí nghiệp gạch ngói Hồng Thái

Tác giả đưa ra các đánh giá tổng hợp về công tác kế toán vật tư tại đơn vị:

  • Ưu điểm: Đội ngũ cán bộ kế toán có trình độ chuyên môn tốt (đại học, trung cấp) và nhiều năm kinh nghiệm, đảm nhận khối lượng công việc lớn trong mô hình phòng kế toán gọn nhẹ. Việc áp dụng tính giá vật tư theo giá thực tế giúp số liệu phản ánh kịp thời mà không cần điều chỉnh chênh lệch giá hạch toán cuối kỳ. Việc sáng tạo sử dụng mẫu "Bảng kê phân loại tài khoản" giúp giảm bớt trùng lặp ghi chép giữa các bảng kê với sổ chi tiết.
  • Nhược điểm và tồn tại:
    1. Hạch toán CCDC chưa tuân thủ nguyên tắc phân bổ: Các CCDC có giá trị nhỏ dùng cho nhiều kỳ hoặc thậm chí một số CCDC giá trị tương đối lớn vẫn bị tính gộp 1 lần toàn bộ vào chi phí sản xuất trong tháng mà không sử dụng TK 142 (Chi phí trả trước ngắn hạn) để phân bổ dần.
    2. Quy trình vào sổ bỏ qua Bảng tổng hợp Nhập - Xuất vật liệu và CCDC: Kế toán vào thẳng Chứng từ ghi sổ từ Bảng kê phân loại tài khoản, dẫn đến việc khi cần đối chiếu phân bổ chi phí chi tiết cho từng đối tượng sử dụng thì phải mất thời gian tra cứu ngược lại sổ chi tiết.
    3. Chưa xây dựng bộ mã danh điểm vật tư: Việc theo dõi tên gọi, quy cách của nhiều chủng loại vật liệu (than, dầu, mỡ, phụ tùng...) hoàn toàn dựa vào chữ viết thủ công, dễ gây nhầm lẫn.
    4. Công tác kế toán chủ yếu thực hiện thủ công, chưa áp dụng phần mềm kế toán trên máy tính.
    5. Công tác kiểm kê cuối năm phản ánh chênh lệch qua TK 138 nhưng chưa phân loại làm rõ nguyên nhân để xử lý dứt điểm. Khâu phế liệu gạch vỡ thu hồi không được ghi chép nhập kho.

Từ các tồn tại trên, tác giả đề xuất 3 nhóm kiến nghị cụ thể:

  1. Đưa vào sử dụng hệ thống Bảng tổng hợp nhập vật liệu (Biểu số 14a), Bảng tổng hợp nhập CCDC (Biểu số 14b) và Bảng tổng hợp xuất vật liệu/CCDC (Biểu số 15) nhằm tổng hợp rõ ràng chi phí phân bổ cho từng đối tượng (TK 621, TK 627, TK 1422, TK 141...).
  2. Thiết lập Sổ danh điểm vật tư và hệ thống mã hóa vật tư khoa học (Biểu số 16), phân cấp theo tài khoản cấp 2 và nhóm cụ thể:
Nhóm vật tư Ký hiệu tài khoản Mã số quy định mẫu
Vật liệu chính (Đất sét, Than bùn, Than cám, Khác) 1521 1521-1; 1521-2; 1521-3; 1521-8
Nhiên liệu (Xăng, Dầu, Mỡ) 1523 1523-1; 1523-2; 1523-3
Phụ tùng thay thế (Cơ khí, Điện) 1524 1524-1; 1524-2
Vật liệu xây dựng cơ bản (Kim loại, Gỗ, Khác) 1525 1525-1; 1525-2; 1525-8
  1. Xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ và chuẩn bị các điều kiện cần thiết về mã hóa dữ liệu để ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác kế toán khi xí nghiệp chuyển đổi sang mô hình công ty cổ phần.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã hệ thống hóa và làm rõ toàn bộ quy trình tổ chức kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ tại một doanh nghiệp sản xuất gạch ngói cụ thể:

  • Phản ánh chi tiết hệ thống chứng từ thực tế tháng 10/2002 của đơn vị, bao gồm các hóa đơn mua than cám 6 (Hóa đơn số DU/01-B ngày 15/10/2002 giá trị thanh toán 37.672 VNĐ gồm thuế GTGT 5%), hóa đơn mua đồ bảo hộ (291.200 VNĐ), hóa đơn mua dầu nhớt/diezen (9.367 VNĐ gồm thuế GTGT 10%), cùng các phiếu xuất kho nung gạch (Phiếu số 28 ngày 24/10/2002 trị giá 20.984 VNĐ) và xuất bảo hộ lao động (Phiếu số 67 ngày 28/10/2002 trị giá 225.000 VNĐ).
  • Làm sáng tỏ mô hình kết hợp phương pháp Thẻ song song trong kế toán chi tiết với hình thức Chứng từ ghi sổ trong kế toán tổng hợp tại doanh nghiệp nhà nước ngành vật liệu xây dựng.
  • Thiết kế hoàn chỉnh bộ biểu mẫu đề xuất gồm Bảng tổng hợp Nhập - Xuất vật tư và Sổ danh điểm vật tư kèm bộ mã số chuẩn hóa theo cấu trúc 5 chữ số đầu tương ứng loại và nhóm tài khoản.
  • Đưa ra giải pháp gắn liền với định hướng cổ phần hóa của xí nghiệp, nhấn mạnh việc thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm bảo vệ tài sản, ngăn chặn thất thoát vật tư và phục vụ nhu cầu cung cấp thông tin minh bạch cho cổ đông và các đối tác tài chính.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Dữ liệu khảo sát chỉ giới hạn trong phạm vi một đơn vị sản xuất gạch ngói cụ thể (Xí nghiệp gạch ngói Hồng Thái) với số liệu tập trung vào Quý IV năm 2002 và 3 tháng đầu năm 2003.
  • Chế độ kế toán phân tích dựa trên hệ thống văn bản cũ (Quyết định số 1141-TC/QĐ/CĐKT và Quyết định số 999-TC/QĐ/CĐKT), sử dụng một số tài khoản chưa qua cập nhật các chuẩn mực kế toán hiện đại (như tài khoản 821 - Chi phí bất thường).
  • Đề tài chưa đi sâu vào việc xây dựng cấu trúc cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh hay thử nghiệm phần mềm kế toán máy cụ thể tại xí nghiệp.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Khảo sát và đánh giá công tác kế toán vật tư sau khi doanh nghiệp hoàn tất quá trình cổ phần hóa.
  • Nghiên cứu thiết kế và triển khai ứng dụng phần mềm kế toán doanh nghiệp nhằm thay thế hình thức ghi sổ thủ công, kết nối dữ liệu giữa bộ phận kho và phòng kế toán.
  • Hoàn thiện quy trình kiểm kê và quản lý hạch toán phế liệu thu hồi trong dây chuyền sản xuất gạch ngói nung.

Giá trị tham khảo

Bản chuyên đề có giá trị thực tiễn và học thuật phục vụ cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Kế toán - Kiểm toán và Tài chính doanh nghiệp tại các trường cao đẳng, đại học làm tài liệu tham khảo về cách tiếp cận thực tế quy trình kế toán vật tư trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
  • Cán bộ kế toán và nhà quản lý tại các nhà máy sản xuất gạch ngói nung, doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng vừa và nhỏ trong việc tham khảo cách xây dựng bảng danh điểm vật tư, mã hóa nguyên vật liệu và tổ chức luân chuyển chứng từ kho - kế toán.
  • Phần đáng tham khảo nhất là hệ thống mẫu biểu đối chiếu thực tế (hóa đơn, biên bản giao nhận, phiếu nhập/xuất kho, bảng kê phân loại tài khoản) và phương pháp xây dựng bảng mã danh điểm vật tư chi tiết cho ngành gạch ngói.

Câu hỏi thường gặp

1. Xí nghiệp gạch ngói Hồng Thái áp dụng phương pháp nào để tính giá thực tế vật liệu xuất kho và hình thức ghi sổ kế toán nào?
Xí nghiệp áp dụng phương pháp Nhập trước - Xuất trước (FIFO) để xác định đơn giá thực tế của từng lô vật liệu xuất dùng, và áp dụng hình thức kế toán Chứng từ ghi sổ trong công tác ghi chép tổng hợp.

2. Điểm khác biệt giữa quy trình kế toán chi tiết vật tư tại xí nghiệp so với lý thuyết thông thường là gì?
Thay vì lập các Bảng kê Nhập và Bảng kê Xuất riêng cho từng loại vật liệu từ chứng từ gốc, kế toán xí nghiệp tập hợp các nghiệp vụ nhập/xuất vào "Bảng kê phân loại tài khoản" (theo Nợ/Có của các tài khoản như TK 152, TK 153) rồi vào thẳng Chứng từ ghi sổ, giúp giảm việc ghi chép trùng lặp nhưng lại gây khó khăn khi cần tra cứu tổng hợp chi phí phân bổ cho từng đối tượng sử dụng.

3. Khâu quản lý và hạch toán phế liệu gạch vỡ thu hồi tại đơn vị có đặc điểm gì?
Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phế liệu gạch vỡ được chuyển thẳng ra bãi chứa mà không qua cân, đếm hay lập thủ tục nhập kho và không có sổ sách theo dõi. Khi xuất bán, xí nghiệp lập phiếu thu tiền và hóa đơn bán hàng cho khách nhận trực tiếp tại bãi.

4. Tác giả đã đề xuất phương án mã hóa danh điểm vật tư như thế nào?
Tác giả đề xuất xây dựng bộ mã vật tư dựa trên tài khoản cấp 2 kết hợp số phân nhóm. Cụ thể: 5 chữ số đầu xác định loại và nhóm vật tư (ví dụ: đất sét là 1521-1, than bùn là 1521-2, than cám là 1521-3, nhóm xăng là 1523-1, nhóm dầu là 1523-2), các chữ số tiếp theo chỉ thứ và quy cách chi tiết (ví dụ: dầu Diezen là 1523-2-002-01, dầu nhớt HD 40 là 1523-2-002-02).

5. Nhược điểm chính trong việc hạch toán công cụ dụng cụ tại đơn vị là gì?
Xí nghiệp thường tính gộp toàn bộ giá trị của CCDC xuất dùng (kể cả CCDC có giá trị nhỏ dùng cho nhiều kỳ hoặc một số CCDC có giá trị tương đối lớn) vào chi phí sản xuất trong tháng phát sinh mà không hạch toán qua tài khoản 142 để phân bổ dần, làm sai lệch chi phí sản xuất giữa các kỳ.

Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp đã phản ánh toàn diện bức tranh tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ tại Xí nghiệp gạch ngói Hồng Thái trong giai đoạn chuẩn bị chuyển đổi mô hình sở hữu. Thông qua việc phân tích hệ thống chứng từ, sổ sách và quy trình hạch toán chi tiết - tổng hợp, nghiên cứu đã chỉ ra các ưu điểm về năng lực chuyên môn và tính kịp thời của số liệu, đồng thời vạch rõ các bất cập trong phân bổ CCDC, quản lý phế liệu và kỹ thuật vào sổ. Các đề xuất về hệ thống Bảng tổng hợp Nhập - Xuất, danh điểm mã vật tư và hoàn thiện kiểm soát nội bộ mang tính ứng dụng cao, hỗ trợ đắc lực cho mục tiêu tin học hóa công tác kế toán tại doanh nghiệp sản xuất.