Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA QUẢN LÝ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO GIÁO DỤC THỂ CHẤT. Cơ sở lý luận về quản lý. Khái niệm về quản lý: Khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện các mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì quản lý xuất hiện như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân, hướng tới một mục tiêu chung. Các Mác đã nói: “ Tất cả lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm thì tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [19,54]. Quản lý là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm - Hoạt động quản lý đã ra đời như một yếu tố khách quan, mang tính tất yếu trong quá trình vận động và phát triển của lao động và các hoạt động xã hội. Có nhiều quan niệm khác nhau về “quản lý”, dựa theo những cách tiếp cận khác nhau, do đó dẫn đến sự phong phú trong các quan niệm về “quản lý”. Sau đây là một số quan niệm của các học giả trong và ngoài nước: *Quan điểm của các tác giả nước ngoài: - Theo F.Taylo (1856- 1915) - người đề xuất thuyết "Quản lý khoa học" cho rằng: quản lý là biết được điều bạn muốn người khác 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất.Afanaxev: “Quản lý con người có nghĩa là tác động đến anh ta sao cho hành vi, công việc và hoạt động của anh ta đáp ứng được những yêu cầu của xã hội, tập thể, để những cái đó có lợi cho cả tập thể và cá nhân”.
- Theo các nhà khoa học Harold Koontz - Cyril Odonnell và Heinz Weihrich trong cuốn “Những vấn đề cốt yếu của quản lý" cho rằng: “Quản lý được hoàn thành thông qua con người. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học”. - Theo Paul Hersey và Ken Blanc Hard: “Quản lý như một quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức”. - Theo Kax Mark: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều cùng đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động những khí quan độc lập của nó.
Như vậy, Mark đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình phát triển của loài người. * Quan điểm của các tác giả trong nước. Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật tác động đến một hệ thống hoạt động xã hội từ tầm vĩ mô đến tầm vi mô. Có nhiều cách tiếp cận, do vậy rất có thể có nhiều cách quan niệm khác nhau về quản lý.
6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Theo từ điển Tiếng Việt năm 1992 - Trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội- Việt Nam: “Quản lý là một tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. - Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa: "Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến" [34,14] - Tác giả Mai Hữu Khuê cho rằng: “Quản lý là sự tác động có mục đích của cán bộ quản lý đối với tập thể những con người, nhằm làm cho hệ thống hoạt động bình thường, giải quyết được nhiệm vụ đề ra”. - Tác giả Đỗ Hoàng Toàn lại quan niệm: “Quản lý là sự tác động có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra trong điều kiện biến động của môi trường”. - Tác giả Đặng Vũ Hoạt và tác giả Hà Thế Ngữ cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định”.
- Tác giả Nguyễn Văn Lê: “Quản lý là một hệ thống xã hội, là khoa học và nghệ thuật tác động vào từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp, nhằm đạt được những mục tiêu đề ra cho hệ và từng thành tố của hệ”. - Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý ) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Những quan niệm về quản lý của các tác giả tuy có khác nhau về cách tiếp cận nhưng đều toát lên một số quan điểm chung nhất về quản lý như sau: 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục đích nhất định. - Là công cụ hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được những mục đích của nhóm.
- Là phương thức hoạt động tốt nhất để đạt được mục tiêu chung của một nhóm, một tổ chức. Như vậy, có thể khái quát về khái niệm quản lý là một quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung. Bản chất của quản lý: Bản chất của hoạt động quản lý chính là sự tác động hợp quy luật của chủ thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành có hiệu quả mong muốn. Xã hội càng phát triển, các loại hình lao động càng phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lý càng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng, hiệu suất lao động.
Hoạt động quản lý có thể mô tả theo sơ đồ sau: Công cụ Chủ thể quản lý Khách thể quản lý Mục tiêu Phương pháp Sơ đồ 1: Mô hình về quản lý Hiệu quả quản lý phụ thuộc vào các yếu: chủ thể, khách thể, mục tiêu, phương pháp, công cụ quản lý. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức - Công cụ quản lý là phương tiện tác động của chủ thể quản lý lên khách thể. Công cụ quản lý có thể là mệnh lệnh (ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ), quyết định (văn bản hoặc không văn bản), các chính sách, chương trình, mục tiêu. - Phương pháp có thể hiểu là cách thức tác động của chủ thể lên khách thể.
Trong quản lý hiện nay, phương pháp quản lý được đúc kết từ nhiều lĩnh vực khác nhau, phụ thuộc vào hình thức, lĩnh vực hoạt động và phong cách quản lý trong tổ chức. Chức năng quản lý: là một hoạt động quản lý chuyên biệt, cơ bản mà thông qua đó chủ thể quản lý tác động vào khách thể quản lý nhằm thực hiện mục tiêu xác định. Chức năng quản lý chiếm giữ một vị trí then chốt, nó gắn liền với nội dung của hoạt động điều hành ở mọi cấp. Các công trình nghiên cứu khoa học quản lý tuy có nhiều ý kiến chưa thật đồng nhất trong thuật ngữ để chỉ ra các chức năng quản lý, song về cơ bản đã thống nhất có 4 chức năng cơ bản: Kế hoạch - Tổ chức - Chỉ đạo - Kiểm tra.
- Kế hoạch: là chức năng trung tâm, được hiểu khái quát là một chương trình hành động cụ thể của chủ thể quản lý căn cứ vào hiện trạng ban đầu của tổ chức trong từng thời kỳ, từng giai đoạn, được hoạch định, lập ra trước khi tiến hành thực hiện một nội dung nào đó để đạt được mục tiêu đề ra, - Tổ chức: là sắp xếp, sắp đặt một cách khoa học những yếu tố, những con người, những dạng hoạt động thành một hệ toàn vẹn, biến tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tương tác với nhau một cách tối ưu. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Lênin nói: “Tổ chức là một nhân tố sinh thành ra hệ toàn vẹn, biến tập hợp các thành tố rời rạc thành một thể thống nhất, người ta gọi là hiệu ứng tổ chức”. - Chỉ đạo: là phương thức hoạt động của chủ thể quản lý nhằm điều hành bộ máy của tổ chức hoạt động thực hiện mục tiêu kế hoạch. Về thực chất, chỉ đạo là những hoạt động xác lập quyền chỉ huy và sự can thiệp của người lãnh đạo trong toàn bộ quá trình quản lý, huy động mọi lực lượng vào việc thực hiện kế hoạch nhằm đảm bảo các hoạt động của tổ chức diễn ra trong kỷ cương trật tự.
- Kiểm tra đánh giá: là biện pháp tác động của chủ thể lên khách thể nhằm xác lập trạng thái vận hành của tổ chức, đánh giá kết quả vận hành của tổ chức, xem mục tiêu và toàn bộ kế hoạch đã đạt đến mức độ nào. Thông qua kiểm tra, chủ thể quản lý thấy được những bất cập, nhưng ưu điểm trong quá trình hoạt động, tìm ra nguyên nhân, có biện pháp điều chỉnh xử lý, uốn nắn, phát huy kịp thời. Giúp chủ thể rút ra những bài học kinh nghiệm quản lý trong quá trình vận hành. Theo lý thuyết hệ thống: Kiểm tra, đánh giá giữ vai trò liên hệ nghịch, là huyết mạch của hoạt động quản lý, kiểm tra không có đánh giá thì coi như không có kiểm tra, không kiểm tra coi như không có hoạt động quản lý.
Trong hoạt động quản lý, các chức năng quản lý thực hiện có hiệu quả hay không phụ thuộc hoàn toàn vào thông tin. Thông tin vừa là phương tiện, vừa là công cụ tiến hành hiệu quả, liên kết chặt chẽ các chức năng quản lý trong hoạt động quản lý.Thông tin là mạch máu của quản lý.