lời mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, danh mục sơ đồ bảng biểu, phụ lục và danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tổ chức công tác kế toán trong Ngân hàng Thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tại Ngân hàng TMCP Đông Nam Á 6 CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Quan điểm về tổ chức công tác kế toán doanh nghiệp Kế toán là một trong những công cụ quản lý kinh tế, gắn liền với hoạt động quản lý và đã xuất hiện cùng với sự hình thành và phát triển của xã hội loài người. Cùng với sự phát triển các phương pháp nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý ngày càng cao của xã hội.
Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế Quốc tế ở nước ta đòi hỏi phải có sự hòa nhập với kế toán các nước, đồng thời phải tuân thủ những nguyên tắc kế toán đã được thừa nhận và phù hợp với các CMKT Quốc tế và CMKT Quốc gia. Khái niệm về tổ chức công tác kế toán: Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc thực hiện các chuẩn mực và chế độ kế toán để phản ánh tình hình tài chính và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh tổ chức thực hiện chế độ kiểm tra kế toán, chế độ bảo quản, lưu trữ tài liệu kế toán, cung cấp thông tin tài liệu kế toán và các nhiệm vụ khác của kế toán. Hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về tổ chức công tác kế toán. Song, có thể khái quát theo các quan điểm sau đây: Tổ chức công tác kế toán là những mỗi quan hệ có yếu tố cấu thành bản chất của hạch toán kế toán: Chứng từ kế toán, đối ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp – cân đối kế toán [2].
Tổ chức công tác kế toán phải giải quyết cả hai phương diện: Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, các nguyên tắc kế toán và các phương tiện tính toán nhằm đạt được mục đích nghiên cứu của khoa học kế toán và tổ 7 chức bộ máy kế toán nhằm liên kết các cán bộ, nhân viên kế toán ở đơn vị để thực hiện tốt công tác kế toán [2]. Tổ chức công tác kế toán là tổ chức việc sử dụng các phương pháp kế toán để thực hiện việc phân loại, ghi chép, tổng hợp nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh phù hợp với Luật Kế toán, Luật Ngân sách Nhà nước và các chính sách, chế độ hiện hành; phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị [2]. Các quan điểm đã nêu khái quát đến cụ thể về tổ chức công tác kế toán. Song, chưa nêu rõ vấn đề tổ chức cho bộ máy thực hiện công việc kế toán nên khi thực hiện trên thực tế sẽ gặp khó khăn.
Theo quan điểm của người thực hiện đề tài này, tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị kế toán là việc tổ chức người làm kế toán theo các phần hành kế toán cụ thể, thực hiện các phương pháp kế toán phù hợp với yêu cầu thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính, phù hợp với đặc điểm cụ thể của đơn vị nhằm đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ việc quản lý đơn vị. Vai trò của tổ chức công tác kế toán trong quản lý doanh nghiệp Trong công tác quản lý kinh tế ở các đơn vị, người ta cần phải sử dụng nhiều công cụ khách nhau. Song, kế toán được coi là công cụ hữu hiệu nhất, có ý nghĩa lớn về cả mặt lý luận và thực tiễn. Vì kế toán phản ánh toàn bộ tình hình tài sản và sự vận động của tài sản, tình hình chi phí, doanh thu và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Vài trò của kế toán trong quản lý doanh nghiệp đã thể hiện rõ trong thực tiễn và rất nhiều tài liệu nghiên cứu: “Đối với các tổ chức doanh nghiệp, kế toán là công cụ quan trọng để điều hành, quản lý các hoạt động, tính toán kinh tế và kiểm tra việc bảo vệ, sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn nhằm đảm bảo quyền chủ hoạt động sản xuất kinh doanh và chủ động tài chính” [2]. 8 Tổ chức công tác kế toán có vai trò rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin kinh tế về một tổ chức cho các đối tượng sử dụng khác nhau. Mục đích của kế toán là cung cấp các thông tin hữu ích cho việc ra các quyết định tài chính cũng như đánh giá hiệu quả kinh doanh của một tổ chức. Thông tin kế toán không những được sử dụng cho bản thân doanh nghiệp mà còn sử dụng cho các đối tượng bên ngoài như các nhà đầu tư, người bán, khách hàng và các cơ quan chức năng của Nhà nước.
Những năm gần đây, trước nhu cầu hội nhập của kế toán Việt Nam với kế toán quốc tế, để đảm bảo có sự thống nhất trong tu duy, trong chỉ đạo thực tiễn, ở Việt Nam đưa ra khái niệm Kế toán Tài chính và Kế toán Quản trị. Do đó, nghiên cứu vài trò của tổ chức công tác kế toán cần phải nghiên cứu trên hai góc độ vai trò của Kế toán Tài chính và Kế toán Quản trị đối với quản trị đơn vị. Kế toán Tài chính là công cụ quản lý để thực hiện quá trình tổng hợp, thông tin về tình hình tài chính của đơn vị một cách tổng quát. Quá trình này được tổ chức và thực hiện bởi quy trình Kế toán Tài chính đảm bảo chính xác, trung thực, đầy đủ do chế độ kế toán quy định.
Luật Kế toán Việt Nam quy định: Kế toán Tài chính là việc thu thập xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng Báo cáo tài chính cho đối tượng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán [4]. Kế toán Quản trị là khoa học thu nhận, xử lý, cung cấp thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị một các chi tiết, cụ thể phục vụ cho nhà quản trị trong việc lập dự toán, điều hành và tổ chức thực hiện dự toán. Do đó, Kế toán Quản trị là một bộ phận của kế toán nói chung và không thiếu được trong quản lý. 9 Luật Kế toán Việt Nam quy định: Kế toán Quản trị là việc thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán [4].
Nhiệm vụ của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Nhiệm vụ của kế toán đã được quy định tại Luật kế toán Việt Nam: - Thu nhập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán. - Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ, kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về kế toán. - Phân tích thông tin, số liệu kế toán, tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị về quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị. - Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật.
Từ nhiệm vụ của kế toán đã quy định nêu trên, tổ chức công tác kế toán cần thực hiện tốt nhiệm vụ sau: - Tổ chức bộ máy kế toán hợp lý, bao gồm việc phân công, phân nhiệm công việc kế toán theo từng bộ phận, từng người làm kế toán của từng phần hành kế toán phù hợp với hình thức tổ chức công tác kế toán. - Tổ chức thực hiện các phương pháp kế toán, chế độ kế toán, vận dụng nguyên tắc kế toán, chuẩn mực kế toán và tổ chức sử dụng các phương tiện kỹ thuật tính toán để thu nhận, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kế toán cho các đối tượng sử dụng. - Xác định rõ mối quan hệ giữa các bộ phận kế toán trong bộ máy kế toán và giữa các bộ phận kế toán với các bộ phận chức năng trong đơn vị về các công việc có liên quan đến công tác kế toán nhằm đảm bảo sự thống nhất trong cung cấp thông tin phục vụ yêu cầu quản lý. Nguyên tắc của tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp Để tổ chức công tác kế toán trong các đơn vị hợp lý, khoa học và đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ công tác quản lý của đơn vị cần thực hiện các nguyên tắc sau đây: - Tuân thủ Luật Kế toán, Chuẩn mực Kế toán, các chế độ chính sách kinh tế tài chính, kế toán và các chính sách vĩ mô của Nhà nước đã ban hành.
+ Luật Kế toán là văn bản có tính pháp lý cao nhất hiện nay về kế toán + Chuẩn mực kế toán gồm những nguyên tắc, phương pháp kế toán cơ bản để ghi sổ kế toán và lập Báo cáo tài chính. + Chế độ kế toán là những quy định và hướng dẫn về kế toán đối với một hoặc một số công việc vụ thể do cơ quan quản lý Nhà nước về kế toán hoặc cơ quan được ủy quyền ban hành, các đơn vị kế toán phải chấp hành. - Phù hợp với đặc điểm tổ chức quản lý, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ người làm kế toán. Tổ chức công tác kế toán muốn đạt được hiệu quả cao cần phải căn cứ vào đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý của đơn vị.
Vì mỗi đơn vị kế toán có các đặc điểm và hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. - Đảm bảo tính thống nhất giữa công tác kế toán và công tác quản lý, cung cấp kịp thời, trung thực và đầy đủ thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh phục vụ cho công tác quản lý chung của đơn vị. Tuy nhiên, mỗi bộ phận khác nhau đảm bảo những nhiệm vụ khác nhau. Các bộ phận này cần phải cung cấp những thông tin phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình phục vụ cho công tác điều hành, quản lý đơn vị.
- Đảm bảo tính tiết kiệm, nâng cao hiệu quả và tính khả thi.