mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham 9 khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng: Chƣơng 1. Lý luận chung về tổ chức công tác kế toán tài chính trong doanh nghiệp. Thực trạng tổ chức công tác kế toán tài chính tại Công ty Viễn thông Hƣng Yên. Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện tổ chức công tác kế toán tài chính tại Công ty Viễn thông Hƣng Yên.
10 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ tổ chức công tác kế toán tài chính trong doanh nghiệp 1. Khái niệm tổ chức công tác kế toán tài chính Để nhận thức đầy đủ về tổ chức công tác kế toán tài chính, trƣớc hết cần làm rõ khái niệm kế toán, kế toán tài chính, kế toán quản trị, tổ chức công tác kế toán tài chính vốn là nội dung căn bản, bộ phận của tổ chức công tác kế toán. Kế toán xuất hiện khi con ngƣời tham gia vào kinh doanh và trao đổi.
Đây là công cụ phục vụ quản lý kinh tế, gắn liền với hoạt động quản lý. Dƣới đây là một số quan niệm: Liên đoàn Kế toán Quốc tế (IFAC) cho rằng: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phân loại, tổng hợp theo một cách riêng có bằng những khoản tiền, các nghiệp vụ và các sự kiện mà chúng có ít nhất một phần tính chất tài chính và trình bày kết quả của nó” [2]. Theo khoản 8, Điều 3, Luật Kế toán Việt Nam năm 2015, kế toán đƣợc hiểu “là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính dƣới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” [32]. Nhƣ vậy, qua các quan niệm kế toán nêu trên cho thấy kế toán đƣợc tiếp cận ở những phạm vi, góc độ khác nhau.
Kế toán có thể đƣợc hiểu là một nghề, là một lĩnh vực nghiên cứu, cũng có thể đƣợc hiểu là một môn khoa học có đối tƣợng, phạm vi, phƣơng pháp nghiên cứu riêng, hoặc có thể hiểu kế toán là một quy trình ghi chép, phản ánh, giải thích hoạt động tài chính. Tuy nhiên, các quan điểm đƣa ra đều gắn kế toán với việc phục vụ cho công tác quản lý. Kế toán là công cụ không thể thiếu đƣợc trong hệ công cụ quản lý kinh tế. Từ 11 những phân tích trên dƣới góc độ nghiên cứu của đề tài có thể hiểu kế toán nhƣ sau: Kế toán là việc thu nhận, phân tích, cung cấp toàn bộ thông tin về tài sản và sự vận động của tài sản, các hoạt động kinh tế tài chính trong các đơn vị, nhằm kiểm tra, xử lý, giám sát toàn bộ hoạt động kinh tế, tài chính của đơn vị.
Kế toán có thể đƣợc phân loại theo các tiêu thức khác nhau, giúp cho chúng ta nhận thức đƣợc nội dung, mục đích, phạm vi… của từng loại kế toán. Tại khoản 1, Điều 9, Luật Kế toán năm 2015 quy định: “Kế toán ở đơn vị kế toán bao gồm: kế toán tài chính và kế toán quản trị” [32]. Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán. Kế toán tài chính là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính bằng báo cáo tài chính cho đối tƣợng có nhu cầu sử dụng thông tin của đơn vị kế toán [32].
Thông tin kinh tế, tài chính có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giúp nhà quản lý doanh nghiệp ra các quyết định phù hợp, nhanh chóng. Bởi lẽ, thông tin này phản ánh liên tục, toàn diện và có hệ thống toàn bộ tình hình tài chính, về mọi mặt của doanh nghiệp. Để phát huy chức năng và vai trò quan trọng trong công tác quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đòi hỏi phải tổ chức công tác kế toán tài chính khoa học, hợp lý nhằm cung cấp thông tin một cách kịp thời, đầy đủ và trung thực, đáp ứng yêu cầu của cơ chế quản lý nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa. Tổ chức công tác kế toán tài chính (TCCTKTTC) tốt, phù hợp là điều kiện quan trọng để có đƣợc những thông tin kế toán kịp thời, chính xác, chất lƣợng và có độ tin cậy cao phục vụ công tác quản lý.
12 Hiện nay, khi nghiên cứu về tổ chức công tác kế toán và TCCTKTTC các nhà khoa học Việt Nam có các quan điểm khác nhau: Theo Trần Trọng Nghĩa (2006) thì: “Tổ chức công tác kế toán là việc thiết lập mối quan hệ giữa các phƣơng pháp hạch toán kế toán (Phƣơng pháp chứng từ, phƣơng pháp tài khoản, phƣơng pháp tính giá, phƣơng pháp tổng hợp cân đối kế toán) trong từng nội dung hạch toán cụ thể nhằm phản ánh chính xác, kịp thời tình hình tài sản và các nghiệp vụ kinh tế phát sinh tại đơn vị” [29, tr. Quan điểm này chỉ rõ rằng tổ chức công tác kế toán là thiết lập các mối quan hệ giữa các phƣơng pháp kế toán đó là phƣơng pháp chứng từ, phƣơng pháp tài khoản, phƣơng pháp tính giá, phƣơng pháp tổng hợp cân đối kế toán nhƣng vẫn còn chung chung, chƣa thể hiện vai trò của tổ chức bộ máy kế toán trong khái niệm. Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Đông (2009) cho rằng: “Tổ chức công tác kế toán là những mối quan hệ có yếu tố cấu thành bản chất của hạch toán kế toán, chứng từ kế toán, đối ứng tài khoản, tính giá, tổng hợp – cân đối kế toán” [9, tr. Quan điểm này cho rằng tổ chức công tác kế toán chủ yếu là tổ chức các phƣơng pháp kế toán một cách chung chung, chƣa cụ thể nên khi vận dụng vào thực tế sẽ gặp nhiều khó khăn cho các doanh nghiệp, chƣa thấy rõ đƣợc việc tổ chức bộ máy kế toán cũng nhƣ tổ chức kiểm tra kiểm soát trong việc cung cấp thông tin tài chính cho điều hành SXKD, đồng thời hạn chế đến hiệu quả tổ chức công tác kế toán trong doanh nghiệp.
Đi sâu nghiên cứu về TCCTKTTC, Giáo trình Kế toán Tài chính, Học viện Tài chính, năm 2006 thì tổ chức công tác kế toán tài chính trong các doanh nghiệp đƣợc hiểu là “việc tổ chức thực hiện ghi chép, phân loại, tổng hợp các nghiệp vụ kinh tế - tổ chức phát sinh theo những nội dung công tác kế toán bằng phƣơng pháp khoa học của kế toán, phù hợp với chính sách chế độ quản lý kinh tế quy định, phù hợp với đặc điểm tình hình cụ thể của doanh 13 nghiệp để phát huy chức năng, vai trò quan trọng của kế toán trong quản lý vĩ mô và vi mô nền kinh tế” [14, tr. Tóm lại, từ những phân tích trên có thể hiểu TCCTKTTC trong doanh nghiệp nhƣ sau: TCCTKTTC trong doanh nghiệp là việc tổ chức bộ máy kế toán, bố trí nhân sự làm công tác kế toán phụ trách từng phần hành kế toán, sử dụng các phương pháp, công cụ kế toán phù hợp để thu nhận, tổng hợp, xử lý, phân tích và cung cấp các thông tin kinh tế tài chính, phù hợp với cơ cấu tổ chức, đặc điểm cụ thể của doanh nghiệp nhằm phát huy vai trò của kế toán, đáp ứng yêu cầu thông tin phục vụ công tác quản lý của doanh nghiệp. Ý nghĩa tổ chức công tác kế toán tài chính Quản lý tình hình tài chính cũng nhƣ tình hình SXKD trong doanh nghiệp đòi hỏi công tác kế toán phải chú trọng và không ngừng nâng cao chất lƣợng. Với chức năng cung cấp thông tin, tổ chức kiểm tra giám sát kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp một cách thƣờng xuyên nên TCCTKTTC là một nội dung đƣợc các doanh nghiệp chú trọng, quan tâm.
Do đó, công tác kế toán không chỉ đơn thuần dừng lại ở việc ghi chép, phản ánh các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của doanh nghiệp mà kế toán phải là hệ thống cung cấp thông tin kịp thời, đầy đủ, chính xác, trung thực giúp nhà quản trị đƣa ra các quyết định quản lý, điều hành của doanh nghiệp. TCCTKTTC trong các doanh nghiệp có nhiều ý nghĩa, cụ thể: Một là, tổ chức công tác kế toán tài chính hợp lý, tối ƣu sẽ giúp doanh nghiệp có đƣợc bộ máy kế toán tinh gọn, tiết kiệm, hoạt động hiệu quả, phát huy năng suất và hiệu quả của bộ máy kế toán. Các nghiệp vụ, phần hành kế toán sẽ phối hợp với nhau một cách thuận tiện, nhịp nhàng, hiệu quả; phân công trách nhiệm chi tiết rõ ràng của từng bộ phận, gắn trách nhiệm của từng nhân sự làm công tác kế toán, bảo đảm kiểm tra, soát xét kỹ càng từng khâu 14 hạch toán; kiểm soát và giám sát chéo giữa các bộ phận nhằm hạn chế sai sót. Hai là, cung cấp đầy đủ, kịp thời, trung thực, chính xác các thông tin về tình hình tài chính, kinh tế của đơn vị cho các đối tƣợng quan tâm giúp các nhà quản trị xem xét đƣa ra các quyết định nhanh chóng, đúng đắn, hiệu quả.
TCCTKTTC hợp lý, khoa học sẽ cung cấp các thông tin kịp thời, đầy đủ, đáng tin cậy cho hoạt động quản lý. Nhà quản trị không thể đƣa ra các quyết định nếu thiếu thông tin. Ba là, bảo đảm việc ghi chép, phản ánh, theo dõi, phân tích và giám sát chặt chẽ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong doanh nghiệp; quản lý theo dõi tài sản, nguồn vốn kinh doanh của doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp sử dụng các nguồn lực một cách phù hợp, hiệu quả. Trong doanh nghiệp, mọi nghiệp vụ kinh tế phát sinh đều đƣợc ghi chép, phản ánh đầy đủ, liên tục, kịp thời, có hệ thống trên cơ sở các hóa đơn, chứng từ hợp pháp, hợp lý, hợp lệ.
Qua đó, nâng cao vai trò trong công tác kiểm tra, giám sát của kế toán. Bốn là, giúp kế toán thực hiện tốt yêu cầu, chức năng, nhiệm vụ của mình trong hệ thống các công cụ quản lý. Tổ chức công tác kế toán tài chính không đơn thuần là tổ chức một bộ phận quản lý mà còn xác lập yếu tố, điều kiện cũng nhƣ các mối quan hệ qua lại, có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động kế toán, giúp kế toán phát huy tối đa chức năng, nhiệm vụ của mình.