CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ TÌNH YÊU ĐÔI LỨA TRONG THƠ DÂN TỘC THIỂU SỐ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI VÀ HÀNH TRÌNH THƠ CỦA Y PHƯƠNG VÀ LÒ NGÂN SỦN 1. Khái quát về tình yêu đôi lứa, trong thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 1. Khái niệm về thơ tình yêu 1.1 Khái niệm về thơ Thơ là thế giới tâm hồn đầy tình cảm của loài người, đã có nhiều định nghĩa khác nhau về thơ. Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống thể hiện tâm trạng những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu.
Định nghĩa đã đưa ra khái niệm về thơ một cách đầy đủ cả về mặt nội dung và hình thức nghệ thuật. Định nghĩa đã giúp chúng ta phân biệt được ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ của các thể loại văn học khác như văn xuôi, kịch. Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ hàm xúc, biểu cảm và có tính nhạc. Điều này đã được thể hiện rõ trong các bài thơ như: Chân quê, Mưa xuân, Tương tư, Cô hàng xóm.của Nguyễn Bính, Sóng, Thư tình cuối mùa thu, Hoa cỏ may của Xuân Quỳnh.
Bàn về thơ Sóng Hồng có viết “Thơ là một hình thức nghệ thuật cao quý tinh vi, người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng, nhưng thơ là tình cảm lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường”[12; tr. Thơ là sản phẩm của quá trình sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ. Thơ diễn tả sự rung động mãnh liệt, nồng cháy, của thi sĩ với cuộc sống.
Mỗi sự vật hiện tượng trong đời sống, đều được phản ánh sinh động trong thơ, mỗi nhà thơ khi viết về một đề tài là một cái nhìn cảm xúc tâm trạng khác nhau. Như viết về đề tài mùa thu, các thi nhân xưa và nay đã có biết bao thi phẩm đặc sắc 13 về thi liệu này. Bích khê có viết trong bài Tỳ bà: “Ô! Hay! Buồn vương cây ngô đồng/ Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông”. Ông hoàng thơ tình Xuân Diệu lại viết: Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang/ Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng/ Đây mùa tu tới mùa thu tới/ Với áo mơ phai dệt lá vàng” (Đây mùa thu tới ).
Tùy theo yêu cầu nghiên cứu có thể chia thơ theo những tiêu chí khác nhau. Dựa vào phương thức phản ánh có thể chia ra thơ tự sự và thơ trữ tình. Xét về mặt gieo vần có thể chia ra thơ có vần và thơ không vần. Cũng có thể người ta phân chia theo thời đại như: Thơ Đường, thơ Tống, thơ Lý Trần.Ngoài ra còn phân chia thơ theo nội dung, đề tài như: thơ tình yêu, thơ triết lý, thơ chính trị, thơ đời thường.
Thơ tình yêu là một bộ phận hữu cơ của thơ trữ tình. Thơ tình yêu lại có một đời sống riêng, sức hấp dẫn riêng trong lòng nhân loại. Có lẽ chưa một người nghệ sĩ nào lại chưa cầm bút viết về tình yêu, một thứ tình cảm thiêng liêng cao đẹp giàu tính nhân văn này. Dường như đề tài tình yêu ở thời kỳ văn học nào cũng có, nó xuất hiện với nhiều dạng thức khác nhau với những mức độ và vẻ đẹp khác nhau khiến thơ tình trở thành dòng chảy liên tục và bền bỉ trong lịch sử thơ ca Việt Nam.
Khái niệm về thơ viết về tình yêu Tình yêu lứa đôi là thứ tình cảm mạnh mẽ, đặc biệt được hình thành và nảy sinh từ tâm hồn của hai người mong muốn gắn bó, chia sẽ và động điệu với nhau. Đó là tình cảm khác về cường độ so với tình cảm thích thú đơn giản đối với một người. Tình yêu bao gồm sự đam mê, đồng điệu và chia sẻ, mong muốn được yêu thương và gắn kết với ngừoi mình yêu thương. Cũng có khi, tình yêu chỉ xuất phát từ một phía nên có tình yêu đơn phương.
Thơ viết về tình yêu đôi lứa đã phản ánh những cung bậc trạng thái tình cảm đặc biệt này. Thơ tình yêu là một bộ phận không thể thiếu trong mạch nguồn sự sống loài người. Qua thơ tình, ta khám phá được những cung bậc cảm xúc tinh tuý của con người. Thơ tình yêu hướng con người đến chân, thiện, mỹ, ra đời giữa những vui buồn của loài người và trở thành bầu sữa tinh thần không thể thiếu trong cuộc đời mỗi chúng ta.
Con người tìm đến thơ tình như tìm về chốn nương náu bình yên nhất của tâm hồn, có người lại dùng thơ tình như một sự giải thoát. Ai đó tìm đến thơ tình như một sự sẻ chia, thấu hiểu. Với sức mạnh của mình, thơ ca viết về tình yêu có khả 14 năng chữa lành, băng bó vết thương, làm hồi sinh, thức tỉnh những trái tim khô héo lụi tàn. Phải chăng, thơ tình yêu đã trở thành bầu rượu thế gian, để tiêu đi những trái ngang tình sầu, nỗi sầu vạn kỷ của con người giữa trần thế? Thơ tình yêu là nơi thổ lộ tình cảm mãnh liệt, đã được con người ý thức.
Thơ viết về tình yêu đôi lứa, vẫn mãi có sức hút ngàn đời với thế gian. Thơ tình yêu của loài người xuất hiện từ rất sớm. Thời kỳ văn học khởi thủy với những câu ca dao, dân ca yêu thương tình nghĩa diễn tả những cảm xúc đôi lứa yêu nhau, qua đó thể hiện khát vọng về một tình yêu đôi lứa chân thành, đằm thắm, sâu kín thiết tha, da diết, đến mãnh liệt như bài Khăn thương nhớ ai. Đến thời kỳ văn học trung đại thơ viết về tình yêu xuất hiện nhiều các tên tuổi cùng với tiếng thơ tình yêu tha thiết, thể hiện khát vọng lứa đôi của con người, tiêu biểu như: Lý Ngọc Kiều, Lê Ỷ Lan, Ngô Chi Lan, Nguyễn Thị Lộ.Đến văn học thế kỷ XVIII- XIX thi đàn được dậy sóng bởi các áng thơ tình chấn động tâm hồn, chưa bao giờ người ta thấy nỗi niềm khao khát tình yêu, khao khát hạnh phúc lứa đôi lại mãnh liệt đến như thế với tên tuổi các nhà thơ: Đoàn thị Điểm, Đoàn Thị Lệ Khương, Đặng Tiểu Thư, Lê Thị Ngọc Hân, Hồ xuân Hương.
Bước sang giai đoạn văn học hiện đại đầu thế kỷ XX đến 1945, trên thi đàn xuất hiện một đội ngũ đông đảo các nhà thơ viết về đề tài tình yêu đôi lứa. Trong đó nổi bật là các tên tuổi của phong trào Thơ mới với những thi phẩm nổi tiếng, diễn tả đầy đủ những cung bậc cảm xúc trong tình yêu: Xuân Diệu say đắm nồng nàn trong tình yêu với Vội vàng, Thơ duyên, Xa cách.; Hàn Mặc Tử với Mùa xuân chín, Trường tương tư.; Nguyễn Bính với Chân quê, Mưa xuân, Tương tư.Huy Cận với Vạn lý tình, Áo trắng., Vũ Hoàng Chương với Say đi em;. Đến giai đoạn sau đó có Xuân Quỳnh với Sóng, Thuyền và biển.; Lâm Thị Mỹ Dạ với Một mình, Tặng nỗi buồn riêng, Khoảng trống.; Đoàn Thị Lam Luyến với tiếng thơ yêu đơn phương mãnh liệt, nhưng vô cùng day dứt trăn trở vị tha: Lỡ một thì con gái, Đi tìm, Tình yêu, Chồng chị chồng em, Huyền thoại một tình yêu.Ngoài ra còn nhiều cây bút thơ tình khác như Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Vũ Cao, Nguyễn Mỹ, Hữu Loan. Đặc biệt sau năm 1975, đất nước hoàn toàn giải phóng, non sông thu về một mối.
Lúc này, cái tôi cá nhân trong thơ ca được quan tâm hơn bao giờ hết. Thơ tình 15 yêu xuất hiện những tên tuổi các nhà thơ viết về tình yêu đôi lứa vô cùng đặc sắc. Bên cạnh những nhà thơ quen thuộc của dân tộc Kinh, chúng ta thấy xuất hiện nhiều nhà thơ là người dân tộc thiểu số viết về tình yêu để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng bạn đọc như: Nông Quốc Chấn, Nông Minh Châu, Cầm Biêu, Bàn Tài Đoàn, Nông Viết Toại, Triều Ân, Inrasara, Nga Rivê, Bùi Thị Tuyết Mai, Nông Thị Ngọc Hòa, Hoàng Thanh Hương, Chu Thùy Liên, Vương Anh, Mã A Lềnh, Vy Thùy Linh.đặc biệt là hai nhà thơ tiêu biểu là Y Phương và Lò Ngân Sủn. Nhìn chung, thơ tình yêu trước hết là thơ trữ tình viết về tình yêu nam nữ, thể hiện diễn tả cảm xúc yêu đương mà trạng thái cảm xúc ấy bắt nguồn sâu xa hoặc trực tiếp từ một người khác giới.
Thơ tình không nhất thiết là chuyện tình cảm, tình yêu của bản thân tác giả, có khi nó là tư tưởng nghệ thuật của người viết, cũng có khi là tình cảm của tác giả được khúc xạ qua nhân vật văn chương. Trong thơ tình, chúng ta thấy có tình yêu trai gái cũng có tình yêu vợ chồng, tình yêu nồng nàn từ hai phía, nhưng lại có những mối tình đơn phương, có tình yêu đầu mơ mộng cũng có tình yêu cuối trắc trở, éo le, cũng có những tình yêu vị tha cao cả, hay những tình yêu vị kỷ tầm thường. Thơ viết về tình yêu đôi lứa của các nhà thơ dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại 1.1 Giai đoạn trước năm 1975 Đây là giai đoạn nước ta phải đương đầu với hai cuộc kháng chiến oanh liệt và hào hùng chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Chưa bao giờ lòng yêu nước và tinh thần đoàn kết lại sục sôi như vậy.
Vì thế, văn học thờ kỳ này có nhiệm vụ chính là phục vụ cách mạng, cổ vũ chiến đấu. Thời kỳ này, thơ ca dân tộc thiểu số nói riêng và thơ ca Việt Nam nói chung phát triển một cách mạnh mẽ, đạt được nhiều thành tựu vượt bậc. Cảm hứng thơ ca thời kỳ này chủ yếu là cảm hứng yêu quê hương đất nước, phản ánh lòng căm thù giặc sâu sắc, niềm tự hào tự tôn dân tộc, ca ngợi hai cuộc kháng chiến yêu nước vĩ đại. Hòa chung không khí sục sôi yêu nước ấy, nền thơ ca dân tộc thiểu số xuất hiện nhiều gương mặt tiêu biểu gắn liền với những tác phẩm thơ như: Nông Quốc Chấn với Việt Bắc đánh giặc (1948), Dọn về làng (1950), Nói với các anh (1953), Thư lên Điện Biên (1954).
Nông Minh Châu với Đêm ba khe (1952), Người thanh niên giữ đèo giàng, Gửi anh bạn Triều Tiên (1953). Cầm Biêu 16 với Vợ lính ngụy mong chồng (1949), Gái thời giặc (1950), Mường muối yên vui (1954). Dặn vợ, dặn con (1940), Mừng thủ đô giải phóng (1954). Mã A Lềnh với Rừng sáng, Vương Anh với: Hoa trong mường, Tình cồng, tình chiêng.