CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Khái niệm tự sự Quan điểm của Bal, Mieke về tự sự: “Tự sự hay kể chuyện là bất kì tường thuật nào để kết nối các sự kiện, trình bày cho người đọc hoặc người nghe bằng một chuỗi câu viết hoặc câu nói hoặc một chuỗi hình ảnh [ 33, tr.15] Theo “Từ điển thuật ngữ văn học”: “Tự sự là phương thức tái hiện đời sống trong toàn bộ tính khách quan của nó. Tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện.
Gắn với cốt truyện là hệ thống các nhân vật được khắc hoạ đầy đủ nhiều mặt hơn so với các nhân vật trong thơ trữ tình và nhân vật kịch. Genette định nghĩa tự sự như sau: “Tự sự là trình bày một sự kiện hay một chuỗi các sự kiện có thực hay hư cấu bằng phương tiện ngôn ngữ đặc biệt là ngôn ngữ tự sự.41] Trần Đình Sử lại cho rằng “Tự sự là loại tác phẩm văn học tái hiện trực tiếp hiện thực khách quan như có một cái gì tác biệt ở bên ngoài đối với tác giả thành một câu chuyện có diễn biến của sự việc, của hoàn cảnh có sự phát triển của tâm trạng, của tính cách và hành động con người. Đó là thể loại văn học tái hiện lại hiện thực đời sống một cách khách quan bằng cách kể lại sự việc, sự kiện, miêu tả tính cách của nhân vật có đầu có đuôi thông qua cốt truyện tương đối hoàn chỉnh và được kể lại bằng một người kể chuyện nào đó.250] Cuốn “Từ điển Tiếng Việt” cũng định nghĩa “Tự sự là thể loại văn học trong đó nhà văn phản ánh thế giới bên ngoài bằng cách kể lại sự việc, miêu tả tính cách thông qua một cốt truyện tường đối hoàn chỉnh.1332] Tự sự có thể xuất hiện ở nhiều thể loại khác nhau, từ tự truyện đến nhật ký và tiểu thuyết. Tự sự cũng được xét trên hai bình diện: người kể chuyện với điểm nhìn , giọng điệu và người tiếp nhận do sự đối thoại của người kể chuyện.
11 Có thể thấy, một văn bản tự sự có ba đặc điểm chính: người kể chuyện, hành động tự sự và sự kiện được kể chuyện. Trong 3 đặc điểm trên thì sự kiện được kể là nền tảng của văn bản tự sự. Vậy là, một tác phẩm trữ tình có tính tự sự không chỉ thiên về tả cảnh, tả tình hay diễn tả cảm xúc mà còn diễn tả trong đó là một câu chuyện diễn tả ngọn nguồn của cảm xúc. Việc nghiên cứu, tìm hiểu tính tự sự trong một tác phẩm trữ tình chính là việc đi tìm hiểu phương thức, tư tưởng mà tác giả muốn gửi gắm điều gì đó thông qua những câu chuyện được kể lại trong tác phẩm.
Hiện tượng giao thoa giữa thể loại trữ tình và sự sự Giao thoa thể loại là một trong những điểm hấp dẫn của văn học. Mỗi giai đoạn, mỗi thời kì văn học sự giao thoa thể loại văn học lại có những biểu hiện khác nhau. Sự giao thoa giữa thể loại trữ tình và tự sự chính là yếu tố tự sự xâm nhập vào thơ trữ tình và ngược lại. Nếu như với tác phẩm trữ tình, những dòng tư tưởng, những quan điểm của tác giả được thể hiện trực tiếp thì ở trong tác phẩm tự sự những dòng tư tưởng, quan điểm đó lại được thể hiện qua các sự kiện của đời sống.
Các tác phẩm tự sự của Thạch Lam, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc… được các tác giả khai thác triệt để yếu tố trữ tình nên mỗi truyện ngắn đều được mang đậm chất thơ với những yếu tố nội tâm phong phú, đa dạng tinh tế. Tuy nhiên, yếu tố trữ tình chỉ là chất xúc tác trong các tác phẩm tự sự. Yếu tố quan trọng của các tác phẩm tự sự là hệ thống các nhân vật, sự kiện và cốt truyện mà tác giả gửi gắm cho người đọc. Trong “Truyện Kiều”, đại thi Nguyễn Du đã gửi vào đó rất nhiều yếu tố trữ tình.
Chẳng hạn như khi kể Thuý Kiều bị Tú Bà đánh, đại thi hào thốt lên : “Thịt da ai cũng là người Lòng nào hồng rụng, thắm rời chẳng đau” Tác giả bộc lộ trực tiếp nỗi xót xa khi nhân vật chính bị hành hạ. Con người vốn là xương là thịt, sao có thể chịu đựng nổi những tác động vật lý mạnh 12 từ bên ngoài? Nguyễn Du xót thương, thấu hiểu, đồng cảm với nỗi đau của con người. Thơ Nguyễn Du là thế, mỗi chữ viết ra như có máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm qua tờ giấy, luôn “dậy sóng” khi chứng kiến những trái ngang của cuộc đời! Có thể thấy, các thể loại ngày càng có xu thế thoát ra khỏi phạm vi của nó và tràn sang những thể loại khác. Sự giao thoa này có nguyên nhân từ sự phát triển tất yếu của thời đại, cùng những cố gắng học hỏi của các nghệ sỹ khi họ không ngừng sáng tạo trong nghệ thuật, biết tiếp nhận những đặc trưng của các thể loại khác để tạo ra các hình thức thể loại mới mang tính chất lai ghép.
Nhờ thế, họ đã góp phần làm nên sự đa dạng, phong phú cho các thể loại. Bởi bên cạnh những điểm mạnh vốn có, thể loại đó sẽ nhận và giao thoa những ưu điểm của thể loại khác giúp cho việc truyền tải ý đồ của nhà văn nhanh hơn, hoàn hảo hơn. Quá trình giao thoa giữa các thể loại đã phá vỡ những nguyên tắc cứng nhắc, rập khuôn, một màu trong các thể loại, giúp các thể loại gần nhau hơn. Khi khai thác, khám phá yếu tố tự sự ở trong thơ, độc giả sẽ thấy rất rõ giá trị của sự giao thoa này.
Bản chất của văn chương là phản ánh cuộc sống, mà cuộc sống thì luôn ẩn chứa những câu chuyện, những sự kiện. Bởi thế, yếu tố tự sự cũng không chịu đứng yên mà nó mạnh mẽ xâm nhập vào các bài thơ. Người nghệ sỹ chỉ cần đưa vào thi phẩm những chi tiết của cuộc sống hàng ngày thì những tác phẩm trữ tình sẽ vượt ra khỏi ranh giới của nó. Thơ sẽ tiến gần hơn đến với cuộc sống của con người, giàu chất hiện thực, người đọc cũng dễ dàng hơn trong việc tiếp nhận những thông tin của sự việc do tác phẩm đem lại.
Yếu tố tự sự xuất hiện trong các tác phẩm trữ tình làm cho các tác phẩm trữ tình không chỉ gói gọn trong những đề tài, những cung bậc bị bó hẹp mà còn được xem xét ở nhiều phương diện hơn, cách nhìn con người và cuộc đời cũng rộng mở, rõ nét hơn. “Chinh phụ ngâm” của Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm là một trong những tác phẩm kinh điển phá vỡ ranh giới giữa tự sự và trữ tình. Khúc ngâm ra 13 đời vào thể kỉ thứ XVIII, nó bứt mình ra khỏi sự khuôn phép của văn học trung đại bởi bên cạnh việc kể chuyện còn phơi trải những cảm xúc xuất phát từ tận tâm can. Nổi tiếng trong dòng thơ trữ tình - tự sự của văn học trung đại Việt Nam là Cao Bá Quát.
Ở các tác phẩm của ông, tự sự kết hợp với trữ tình tạo nên sự độc đáo, đặc sắc. Bài “Đằng Tiên Ca” được tác giả viết sau khi chịu những trận đánh đập dã mãn trong nhà tù, ông miêu tả tỉ mỉ, cụ thể việc tra tấn, xét hỏi, tâm trạng của người tù khi phải chịu đòn roi. Bài thơ vừa mang những đặc sắc của thể loại tự sự, vừa mang những nét tiêu biểu của nghệ thuật trữ tình. Về thời gian, không gian của bài thơ được tác giả mô tả khá rành rọt, cụ thể đó là một ngày sau rằm tháng chín, tiết trời dịu mát nhưng u ám do không có mặt trời.
Bài thơ không chỉ là lời kể mà còn thể hiện được nỗi uất ức của tử tù khi bị oan. Qua đó, nhà thơ đã vạch trần tội ác, sự bất công của những nhà tù dưới thời Nguyễn khiến cho những người vô tội trở thành người có tội! Kết hợp giữa giữa nghệ thuật trữ tình với nghệ thuật tự sự chính là một trong những phương thức sáng tác mà được rất nhiều những nhà thơ sử dụng. Nghệ thuật tự sự giúp cho những sự việc được nói đến trở nên rõ ràng, cụ thể và nảy sinh những tâm trạng, cảm xúc để nghệ thuật trữ tính được bộc lộ. Sự kết hợp này tạo tính hàm súc, tính hấp dẫn cho tác phẩm thơ.
Trong “Độc Tiểu Thanh kí” nhà thơ Nguyễn Du đã viết: “Tây Hồ hoa uyển tẫn thành khư, Độc điếu song tiền nhất chỉ thư. Chi phấn hữu thần liên tử hậu, Văn chương vô mệnh luỵ phần dư. Cổ kim hận sự thiên nan vấn, Phong vận kì oan ngã tự cư.” Vùng đất hoang tàn ở Tây Hồ bây giờ đã trở nên hoang vu, đổ nát nhưng qua lời kể ngắn gọn, súc tích lại chứa đựng những tâm trạng xót xa, đầy tiếc 14 nuối của nhân vật trữ tình. Ở đoạn thơ, nghệ thuật tự sự kết hợp với trữ tình không chỉ cho người đọc thấy được thực tế nghiệt ngã của sự vật, hiện tượng, mà còn thể hiện được cảm xúc xót xa cùng tiếng thở dài nuối tiếc, những suy nghĩ thầm kín của Nguyễn Du.
Như vậy, kết hợp giữa tự sự và trữ tình trong thơ là nét nghệ thuật tiêu biểu, góp phần làm nên phong cách của các nhà thơ lớn trong văn học trung đại Việt Nam, trong đó có Nguyễn Du và Cao Bá Quát. Đọc thơ của Đặng Vương Hưng, người đọc dễ dàng nhận thấy có sự kế thừa hiện tượng giao thoa giữa thể loại trữ tình - tự sự. Trong bài “Những ngày ốm”, tác giả đã kể về khoảng thời gian rất nhỏ, những “lát cắt” của một đời người: “Thuốc thang không đủ tiền mời Cơm canh lạnh nhạt, lệch đôi đũa mòn Và em chẳng hát ru con Thờ ơ ánh mắt héo hon nụ cười Niềm vui trốn chạy đâu rồi? Nỗi buồn hớn hở dạo chơi đầy nhà. Câu chuyện về những ngày ốm tưởng chỉ là kể đơn thuần nhưng bài thơ vẫn chứa chan tình cảm đậm sâu, là nỗi niềm thương vợ của người chồng đang đối mặt với bệnh tật.
Bình thường cuộc sống đã hạn hẹp, nay có người trong nhà đổ bệnh nên khó khăn càng chồng chất. Câu chuyện kinh tế thiếu thốn mà chưa có cách giải quyết kịp thời khiến không khí gia đình u ám, căng thẳng của Vương Hưng làm độc giả cũng thổn thức, sầu não cùng nhân vật trữ tình. Tóm lại, trong thơ trữ tình, yếu tố tự sự có vai trò khá đặc biệt. Nó làm cho thơ trữ tình bớt thống thiết, giàu chất hiện thực, đề tài phong phú hơn.