Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu Nhóm 4 BCCK Phương Pháp Nghiên Cứu 20 - Trình bày lý do nghiên cứu đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn của đề tài và kết cấu nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết - Trình bày các cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài để làm nền tảng nghiên cứu. - Trình bày các lý thuyết về các yếu tố tác động đến sự hài lòng của người dân đối với các chính sách đối với chính sách thu hồi, bồi thường đất và tái định cư bắt buộc nhằm phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. - Trình bày các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Trình bày quy trình nghiên cứu, cơ sở hình thành thang đo, thực hiện nghiên cứu sơ bộ, các phương pháp thu nhập dữ liệu và chọn mẫu ngẫu nhiên, xây dựng bảng câu hỏi cho điều tra nghiên cứu sơ bộ, trình bày kết quả nghiên cứu sơ bộ: đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA. Chương 4: Kết quả nghiên cứu chính thức - Trình bày kết quả nghiên cứu chính thức, cụ thể bao gồm: thống kê mô tả nghiên cứu, đánh giá độ tin cậy bằng Cronbach's Alpha, kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA, kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khẳng định CFA, phân tích phương trình cấu trúc tuyến tính SEM. Chương 5: Kết luận - Trình bày tóm tắt kết luận và nêu ra khuyến nghị. Làm rõ các hạn chế của đề tài và định hướng nghiên cứu tiếp theo.
Nhóm 4 BCCK Phương Pháp Nghiên Cứu 21 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Tổng quan các lý thuyết liên quan đến đề tài Nghiên cứu này tập trung vào việc xác định sự hài lòng của nông dân đối với chính sách thu hồi đất trồng trọt và tái định cư bắt buộc nhằm phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Nghiên cứu đã điều tra mối quan hệ giữa tình trạng kinh tế của nông dân (ES), kỳ vọng chính sách (PE), giá trị cảm nhận về chính sách (PPV) và xem xét tác động trung gian của PE và PPV đối với mối quan hệ giữa ES và PS. Đầu tiên, Phân tích yếu tố xác nhận (CFA) được sử dụng để đo lường độ tin cậy nhất quán nội bộ, hiệu lực hội tụ và hiệu lực phân biệt của các cấu trúc trong mô hình đề xuất của chúng tôi.
Sau đó, phương pháp SEM được áp dụng để định lượng mức độ tương tác giữa bốn biến tiềm ẩn (ES, PE, PPV và PS). Trên cơ sở phân tích lý thuyết ở trên, chúng tôi đã xây dựng một mô hình khái niệm phân tích mối quan hệ giữa ES, PE, PPV và PS. Kết quả của chúng tôi đã cung cấp thông tin chi tiết mới để cải thiện sự hài lòng của nông dân với các triển khai trong tương lai của chính sách thu hồi và bồi thường đất cho nhà dân.1 Khái niệm về sự hài lòng Có nhiều quan điểm khác nhau đánh giá về mức độ thỏa mãn cũng như sự hài lòng của khách hàng. Sự hài lòng là một đánh giá tâm lý chủ quan về niềm vui và hạnh phúc khi một cái gì đó đáp ứng được mong đợi của mọi người.
Sự hài lòng của nông dân đối với chính sách thu hồi đất trồng trọt là giá trị định lượng của đánh giá tâm lý về cuộc sống và sinh kế của nông dân sau khi thu hồi nhà ở. Trong những năm gần đây, lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng đã được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá việc thực hiện các chính sách công Theo Ferh và Russell (1984), Sự hài lòng là sự phản ứng của chủ thể sử dụng dịch vụ đối với việc được đáp ứng những mong muốn mà họ đã định hình từ đầu Nhóm 4 BCCK Phương Pháp Nghiên Cứu 22 Còn Philip Kotler và Keller (2004) định nghĩa "Sự hài lòng của khách hàng là trạng thái cảm nhận của một người thông qua việc tiêu dùng sản phẩm về mức độ lợi ích mà một sản phẩm thực tế mang lại so với những gì người đó kỳ vọng mong đợi". Theo Hoyer và cộng sự (2010), thì sự hài lòng của khách hàng là cảm giác khi đưa ra một kết quả nào đó mà khách hàng đánh giá tích cực hoặc cảm thấy vui vẻ với quyết định của họ. Theo Hoyer và MacInnis (2001), sự hài lòng có thể gắn liền với cảm giác chấp nhận, hạnh phúc, giúp đỡ, phấn khích, vui sướng.
Theo Philip Kotler (2001), sự hài lòng là mức độ của trạng thái của một người bắt nguồn từ việc so sánh nhận thức về một sản phẩm so với mong đợi của người đó. Theo đó sự hài lòng có ba cấp độ khác nhau: nếu nhận thức của khách hàng nhỏ hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận không thỏa mãn; nếu nhận thức bằng kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận thỏa mãn; nếu nhận thức lớn hơn kỳ vọng thì khách hàng cảm nhận là thỏa mãn hoặc thích thú Từ những định nghĩa ở trên, chúng ta có thể hiểu được rằng sự hài lòng của khách hàng chính là kết quả đạt được khi mà giá trị cảm nhận của sản phẩm hoặc dịch vụ đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng. Như vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về sự hài lòng của khách hàng nhưng nhìn chung sự hài lòng của khách hàng là sự so sánh chủ quan giữa mức độ mong muốn, kỳ vọng của khách hàng với thực tế. Do vậy, để đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng, người ta đem so sánh kết quả thực tế thu được so với kỳ vọng khách hàng.2 Khái niệm về giá trị cảm nhận Giá trị cảm nhận của khách hàng là một khái niệm rất rộng trong kinh tế, marketing, tâm lý học, tâm lý xã hội, … và đã được nghiên cứu từ nhiều năm trước, có nhiều định nghĩa khác nhau về giá trị cảm nhận của khách hàng như Day (1990) cho rằng: “Giá trị cảm nhận của khách hàng là phần thặng dư giữa những lợi ích được cảm nhận bởi khách hàng và những chi phí được cảm nhận bởi Nhóm 4 BCCK Phương Pháp Nghiên Cứu 23 khách hàng”.
“Giá trị cảm nhận của khách hàng biểu thị chênh lệch giữa chất lượng và những lợi ích mà khách hàng cảm nhận trong sản phẩm và những hy sinh mà họ cảm nhận bởi việc phải trả giá cho sản phẩm” (Monroe, 1990) Theo Zeithaml (1988): “Giá trị cảm nhận là sự đánh giá tổng thể của người tiêu dùng về tiện ích của một sản phẩm hay dịch vụ dựa vào nhận thức của họ về những gì nhận được và những gì phải bỏ ra”. Zeithaml đánh giá như một sự so sánh giữa hai thành phần “nhận được” và “bỏ ra” của sản phẩm, dịch vụ. Theo Woodruff (1997:142), “giá trị cảm nhận của khách hàng là sự yêu thích, cảm nhận và đánh giá của khách hàng về các đặc tính của sản phẩm, sự thể hiện của đặc tính và những kết quả đạt được từ việc sử dụng để đạt được một cách dễ dàng (hoặc gây trở ngại) ý định và mục tiêu của khách hàng trong các trường hợp sử dụng”. Khái niệm này kết hợp chặt chẽ giá trị mong muốn với giá trị nhận được và nhấn mạnh rằng giá trị xuất phát từ nhận thức, sự ưa thích và đánh giá của khách hàng.
Nó cũng liên kết sản phẩm với các trường hợp sử dụng và hiệu quả đạt được qua quá trình sử dụng bởi các khách hàng. Theo Sheth, Newman và Gross (1991) thì giá trị cảm nhận bao gồm 5 thành phần: giá trị chức năng, giá trị tri thức, giá trị xã hội, giá trị cảm xúc, giá trị có điều kiện. Kết quả kiểm định của Sheth, Newman và Gross (1991) cho thấy các thành phần giá trị cảm nhận cũng chính là các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn của khách hàng. Cronin và cộng sự (1997) định nghĩa rằng: “Giá trị cảm nhận là sự kết hợp của chất lượng dịch vụ và những lợi ích của nó (lợi ích chức năng, xã hội, kinh tế) và những hy sinh (thời gian, công sức, tiền bạc) mà một cá nhân phải trả để có được dịch vụ.
Nó cũng dựa trên những trải nghiệm từ những dịch vụ đã nhận được”. Theo Woodruff (1997) nhận định rằng giá trị cảm nhận của khách hàng là sự yêu thích, cảm nhận và đánh giá của khách hàng về các đặc tính của sản phẩm, sự thể hiện của đặc tính và những kết quả đạt được từ việc sử dụng để đạt được một cách dễ dàng (hoặc gây trở ngại) ý định và mục tiêu của khách hàng trong các trường hợp sử dụng. Nhóm 4 BCCK Phương Pháp Nghiên Cứu 24 Như vậy, tùy vào những người tiêu dùng khác nhau, sẽ có cảm nhận khác nhau về giá trị mà một sản phẩm hay dịch vụ mang lại cho họ cao hay thấp.3 Khái niệm về sự kỳ vọng Kỳ vọng là mong muốn của con người đối với một sự vật, hiện tượng có thể diễn ra trong bất kỳ hiện tượng, sự vật nào của đời sống xã hội. Kỳ vọng là nhận định về các sự kiện tương lai nhằm định hướng hành vi kinh tế hiện tại.
Kỳ vọng là những điều mong mỏi, và nó đều sự hy vọng đối với ai đó hoặc là điều gì đó. Đó là sự nhận định về những điều gì đó ở trong những sự kiện tương lai, nhất lại là khi mà các cá nhân sẽ có được sự nhận thức khác nhau, những kỳ vọng đẹp nhất ở trong tương lai. Kỳ vọng được sử dụng để giúp cho con người có thể đưa ra các nhận định đối với các sự kiện có thể diễn ra trong tương lai gần, từ đó có thể giúp cho mỗi chúng ta có thể định hướng được những hành vi của kinh tế hiện tại.4 Khái niệm của sự mong đợi Mong đợi là một phạm trù hoạt động tinh thần đề cập đến các mục tiêu hoặc lợi ích của con người, dựa trên kinh nghiệm của họ, mong muốn đạt được hoặc có được trong một tình huống nhất định. Một đánh giá về các tài liệu cho thấy rằng kỳ vọng đóng một vai trò quan trọng trong sự hài lòng.5 Khái niệm của sự thỏa mãn Thỏa mãn là một trạng thái cảm xúc thỏa mãn có thể được xem là trạng thái tinh thần, có thể có được từ sự thoải mái trong tình huống, cơ thể và tâm trí của một người.
Nhóm 4 BCCK Phương Pháp Nghiên Cứu 25 Thỏa mãn là mức độ thuộc về trạng thái cảm giác của khách hàng bắt nguồn từ việc so sánh kết quả sản phẩm hoặc dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp so với những kỳ vọng mà họ đặt ra. Các khái niệm/định nghĩa trong đề tài nghiên cứu 2.