Đặt vấn đề Việt Nam là một nước nông nghiệp, 80% dân số sống bằng ngành trồng trọt và chăn nuôi. Do đó vấn đề phát triển nông nghiệp hiện đại hóa nông thôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm hàng đầu với những đối tượng trong cơ cấu và xu hướng phát triển lâu dài. Ngành chăn nuôi đang ngày chiếm vai trò và tỷ trọng lớn trong tổng sản phẩm nền kinh tế quốc dân. Nói đến ngành chăn nuôi không thể không kể đến ngành chăn nuôi lợn bởi tầm quan trọng và ý nghĩa thiết thực của nó trong đời sống kinh tế xã hội.
Chăn nuôi lợn đã góp phần giải quyết công ăn, việc làm, xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho các nhà chăn nuôi. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, sự gia tăng của đàn gia súc, người chăn nuôi gặp không ít khó khăn do dịch bệnh gây ra. Một trong những bệnh thường gặp gây thiệt hại lớn trong chăn nuôi là bệnh phân trắng lợn con. Bệnh này phát triển mạnh đặc biệt ở vùng chăn nuôi lợn tập trung.
Nếu không được quan tâm chăm sóc, hộ lý tốt, nhiều nơi tỷ lệ mắc bệnh có thể tới 100% và tỷ lệ chết cao. Xuất phát từ thực tế nói trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn Nuôi – Thú y – Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên cùng sự giúp đỡ, chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập tại trang trại, em tiến hành thực hiện chuyên đề: Tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con giai đoạn 1 đến 21 ngày tuổi tại trại chăn nuôi Trần Văn Tuyên, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình và biện pháp phòng trị. Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục tiêu tiến hành - Nắm vững quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng lợn con theo mẹ giai đoạn 1 đến 21 ngày tuổi.
- Thành thạo kỹ năng chẩn đoán và điều trị bệnh phân trắng lợn con. - Rèn luyện tay nghề, nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế. Yêu cầu của chuyên đề -Theo dõi và điều tra tình hình nhiễm bệnh phân trắng ở lợn con tại trại chăn nuôi Trần Văn Tuyên. - Hiểu biết bệnh lợn con ỉa phân trắng về: Đặc điểm, nguyên nhân, triệu chứng, chẩn đoán và phương pháp phòng trị bệnh.
- Xác định hiệu lực của thuốc MD Nor 100 trị bệnh phân trắng lợn con.Ý nghĩa của chuyên đề 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của chuyên đề là những thông tin có ý nghĩa khoa học quan trọng về bệnh phân trắng lợn con. Ý nghĩa trong thực tiễn Trên cơ sở theo dõi tình hình mắc bệnh phân trắng lợn con, từ đó đề xuất các biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. Dựa vào thực tế theo dõi đưa ra các phác đồ điều trị bệnh phân trắng lợn con có hiệu quả cao.
c 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện tự nhiên, cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên a.
Vị trí địa lý Trại lợn của ông Trần Văn Tuyên nằm trên địa bàn xã Đoàn Kết thuộc huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình, cách thành phố Hoà Bình khoảng 85 km. Cách thành phố Ninh Bình đường quốc lộ 1A khoảng 50km. Cách thủ đô Hà Nội, sân bay quốc tế nội bài khoảng 100 km. Cách thành phố Sơn La khoảng 250 km.
Phía đông giáp với xã Ngọc Lương huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. Phía tây giáp với xã Văn Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Phía nam giáp với xã Đồng Phong và xã Yên Quang của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Phía Bắc Yên Thuỷ giáp với Cúc Phương của huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình b.
Điều kiện địa hình, đất đai Đây là miền núi của huyện Yên Thủy có địa hình tương đối phức tạp, được bao bọc bởi các dãy núi đá vôi, các dãy núi xen kẽ đồi và sông suối nhỏ. Ở đây có một số tài nguyên khoáng sản như: Than đá (Lạc Đoàn Kết, Bảo Hiệu) và dạng sa khoáng, mỏ đất sét, đá xây dựng, nước khoáng Ngọc Lương… c. Giao thông vận tải Có đường giao thông thuận lợi đi qua các tỉnh lân cận như Ninh Bình, Phú Thọ, đường Hồ Chí Minh thuận lợi trong phát triển kinh tế, xã hội và giao lưu hàng hóa. Điều kiện khí hậu Khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa đông ngắn, lạnh, ít mưa, mùa hè dài, nóng, mưa nhiều.
Đặc biệt do địa hình có độ dốc nhẹ về phía đông và không có nhiều sông suối nên trên địa bàn hầu như không có lũ lụt vào mùa mưa. Cơ cấu tổ chức của trang trại * Quá trình thành lập: Trại lợn ông Tuyên nằm trên địa phận xóm Cửa Lũy, xã Đoàn Kết, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình. Là trại lợn gia công của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam, hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty đầu tư giống lợn, thức ăn, thuốc thú y và cán bộ kỹ thuật. Hiện nay, trang trại do ông Trần Văn Tuyên làm chủ, cán bộ kỹ thuật của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại * Cơ cấu tổ chức của trang trại - Gồm 3 nhóm: + Nhóm quản lý: 1 chủ trại phụ trách chung, 1 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại.
+ Nhóm kỹ thuật: 2 kỹ sư chăn nuôi, 1 kỹ sư di truyền, 1 kỹ thuật điện, 1 kế toán phụ trách chuyên môn. + Nhóm công nhân: 15 công nhân, 7 sinh viên thực tập thực hiện công việc chuyên môn. Với đội ngũ nhân công trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu. Các tổ có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc, quản lý các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm và thúc đẩy sự phát triển của trang trại.
Cơ sở vật chất của trang trại Trang trại có tổng diện tích là 4,2 ha nằm trên địa bàn xã Đoàn Kết, có địa hình chủ yếu là núi đá vôi nhưng đường giao thông đã được nâng cấp, thuận tiện cho việc đi lại, vận chuyển. Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật gồm: Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại. Khu chăn nuôi có hàng rào bao bọc xung quanh và có cổng vào riêng. Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn.
Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho 1200 nái cơ bản bao gồm: + 3 chuồng nái đẻ: mỗi chuồng chia làm 2 khu A và khu B, mỗi khu có 2 dãy, mỗi dãy có 29 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ. + 2 chuồng nái chửa: chuồng 1 và chuồng 2, mỗi chuồng gồm 8 dãy mỗi dãy có 75 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau. Riêng chuồng 1: dãy 1 được thiết kế để cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và dãy 2 có khu để làm nơi thụ tinh nhân tạo cho lợn nái. + 1 chuồng đực giống: bao gồm 22 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh.
+ 4 chuồng cách ly: dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ các trại gia công lợn hậu bị của Công ty cổ phần chăn nuôi CP Việt Nam, mỗi chuồng có thể nuôi được từ 30 - 40 lợn hậu bị. Lợn được nuôi ở đây trong thời gian 3 tháng để làm vaccine đầy đủ trước khi được đưa lên giống. c 6 Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn. Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, úm lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa Hè ấm áp về mùa Đông bằng cách điều chỉnh hệ thống quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng.
Mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, cuối chuồng có hệ thống thoát phân và nước thải. Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng pha chế tinh lợn, với đầy đủ tiện nghi như: kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu nước sát trùng để trước cửa ra vào chuồng. Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn giữa các dãy chuồng. Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi có xây dựng 5 phòng tắm sát trùng cho công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1 kho cám, 1 phòng ăn và 2 phòng nghỉ trưa cho công nhân.
Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vaccine, tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc của trại, xe chở cám từ nhà kho xuống các dãy chuồng, máy nén khí phun sát trùng di động khu vực trong và ngoài chuồng nuôi. Tình hình sản xuất của trang trại * Công tác chăn nuôi Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật. Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,40 - 2,45 lứa/năm. Số con sơ sinh là 12,07 con/đàn, số con cai sữa là 10,45 con/đàn, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi, chậm nhất là 26 ngày thì tiến c 7 hành cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn giống của công ty CP.
Theo đánh giá của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam thì trại hoạt động vào mức khá. Trong trại có 22 con lợn đực giống. Các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo. Tinh lợn được khai thác từ 3 giống lợn là Landrace, Yorkshire và Duroc.
Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như lợn đực.