Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU TÍNH SÁNG TẠO CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC TRONG HỌC MÔN MỸ THUẬT 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về sáng tạo trên thế giới Hoạt động sáng tạo gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Từ việc tìm ra lửa, chế tạo công cụ bằng đá thô sơ.
đến việc sử dụng năng lượng nguyên tử, chinh phục vũ trụ., hoạt động sáng tạo của loài người không ngừng được thúc đẩy. Sáng tạo không thể tách rời khỏi tư duy - hoạt động bộ não của con người. Chính quá trình tư duy sáng tạo với chủ thể là con người đã tạo các giá trị vật chất, tinh thần, các thành tựu vĩ đại về mọi mặt trong cuộc sống và tạo ra nền văn minh nhân loại. Thuật ngữ khoa học về sáng tạo (Heuristics, Creatology hay Ars inveniendi), lần đầu tiên xuất hiện trong những công trình của nhà toán học Pappos, sống vào nửa cuối thế kỷ thứ III tại Alexandri - Hy Lạp.
Ý định "khoa học hóa tư duy sáng tạo" hay sáng tạo, theo quan niệm lúc bấy giờ, Ơristic là khoa học về các phương pháp và quy tắc làm sáng chế, phát minh trong mọi lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, chính trị, triết học, toán, quân sự. Sau đó các nhà toán học và triết học nổi tiếng như Descartes, Leibnitz, Bernard Bolzano. đã có nhiều cố gắng thành lập hệ thống khoa học nghiên cứu về khả năng sáng tạo của con người. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có những công trình nghiên cứu đầy đủ về năng lực sáng tạo của con người như một ngành khoa học độc lập.
Nghiên cứu chuyên sâu về sáng tạo dưới góc độ tâm lý học có thể thấy các tác phẩm nổi tiếng trên thế giới chưa được dịch ở Việt Nam như: “Những nhà tâm lý học sáng tạo người Mỹ”, - Guilford J. P, (1950)[48]; “Các thái độ 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sáng tạo”, Fromm (1959)[46]; “Sự phát triển của sáng tạo ở trẻ em”, Klaus K. Urban (1991)[49]; “Sáng tạo trong ngữ cảnh”, Westview Press. Amabile TM (1996)[42]; “Dạy trẻ phương pháp tư duy: phát triển trí năng, óc sáng tạo và sự tự tin cho trẻ”, Edward de Bono (2005.)[45]( Các tác phẩm tiếng Anh- Tác giả dịch tên sang tiếng Việt); và các tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt như: “Tâm lý học nghệ thuật”, Vưgôtxki (1980); “Trí tưởng tượng và sáng tạo ở tuổi thiếu nhi”, Vưgôtxki (1985)[37]; …và khá nhiều công trình nghiên cứu về sáng tạo, tư duy sáng tạo của các nhà tâm lý học Xô viết như X.
Tổng hợp các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học trên thế giới khi nghiên cứu sáng tạo có thể tiếp cận theo các hướng như sau: Hướng thứ nhất, tiếp cận nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ xã hội - nhân cách Các công trình theo hướng tiếp cận xã hội - nhân cách đã tập trung vào nghiên cứu các biến nhân cách, động cơ và môi trường văn hoá xã hội như nguồn gốc của sáng tạo. Các nhà nghiên cứu như Amabile (1983), Eysenck (1993), Gough (1979) đã điểm ra những đặc điểm nhân cách thường là đặc tính của người sáng tạo. Barron & Harrington (1981) thông qua những nghiên cứu tương quan và nghiên cứu đối lập những người sáng tạo cao và sáng tạo thấp (cả mức độ sáng tạo kiệt xuất và hàng ngày) đã liệt kê một số phẩm chất nhân cách của người sáng tạo: bình luận độc lập, tự tin, bị lôi cuốn bởi sự phức tạp, định hướng mỹ học và ưa mạo hiểm. Theo Maslow (1968), tính táo bạo, dũng cảm, tự nhiên, tự chấp nhận và những thuộc tính khác có thể đưa cá nhân đến hiện thực hoá tất cả tiềm năng của mình, trong đó có tiềm năng sáng tạo.
Tập trung vào động cơ sáng tạo, nhiều nhà lý luận đã giả định sự phù hợp của động cơ tự thân (Ambile, 1983, Crutchfied, 1962), nhu cầu thành đạt (McClelland, Atkinson, Clack, Lowell, 1953) và các động cơ khác. Amable 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (1983) và đồng nghiệp của bà đã tiến hành nhiều nghiên cứu về tầm quan trọng của động cơ tự thân (bên trong) đối với sáng tạo. Nghiên cứu của Sternberg, Farrari, Clinkenbeard & Grigorenko (1996) chỉ ra rằng không chỉ sáng tạo cần động lực mà sáng tạo còn tạo ra động lực. Khi các sinh viên được đánh giá cao khả năng sáng tạo của họ, kết quả học tập được nâng lên.
Có cơ hội được sáng tạo, những sinh viên vì lý do nào đó mất động lực học tập có thể tìm lại được động lực. Sự phù hợp của môi trường xã hội đối với sáng tạo là lĩnh vực có nhiều công trình nghiên cứu. Ở cấp độ môi trường xã hội, Simonton (1984) đã tiến hành nhiều nghiên cứu có liên quan về số liệu theo thời gian với những nền văn hoá đa dạng, có những vai khác nhau, nguồn lực và nhiều người cạnh tranh. Sự so sánh liên văn hoá (Lubart, 1990) và nhân học (Maduro, 1976; Silver, 1981) đã chỉ ra những tác động của văn hoá tới sự biểu đạt sáng tạo.
Các nền văn hoá khác nhau đánh giá sáng tạo khác nhau. là người đầu tiên nói về các đặc điểm nhân cách của nhân cách sáng tạo và biểu diễn nó thành một mô hình. Ông cho rằng, nhân cách sáng tạo được xác định bởi một tổ hợp các đặc điểm và năng lực như sau: tính lưu loát (fluency), tính mềm dẻo (flexibility), tính cho tiết (elaboration), tính độc đáo (ogrinality), tính nhạy cảm vấn đề (sensibility) và sự định nghĩa lại (redefinition) [48]. Những nghiên cứu ở Viện nhân cách của trường đại học tổng hợp California đã đi đến kết luận như sau: - Người sáng tạo trội hơn về tính phức hợp trong tư duy; - Người sáng tạo tinh tế hơn và phức hợp hơn trong tâm vận động; - Người sáng tạo có tính độc lập hơn trong đánh giá; Người sáng tạo tự ý thức cao hơn, tự tin cao hơn; - Người sáng tạo luôn chống lại sự áp đặt và sự hạn chế.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ góc độ nhân cách, năm 1988 nhà tâm lý học người Đức Pigpig G. cho rằng: Tính sáng tạo là thuộc tính nhân cách đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước một hoàn cảnh có vấn đề; Thuộc tính nhân cách này là tổ hợp các phẩm chất tâm lý, mà nhờ đó con người trên cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội. Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyền thống và đưa ra giải pháp mới, độc đáo và thích hợp đối với các vấn đề đặt ra [52]. Hướng tiếp cận xã hội - nhân cách đã có đóng góp đáng kể về mặt khoa học trong nghiên cứu sáng tạo.
Tuy nhiên, hướng nghiên cứu này chưa chú ý đến khía cạnh quá trình sáng tạo nên chưa lý giải một cách khoa học về quá trình sáng tạo diễn ra như thế nào?. Hướng thứ hai, tiếp cận nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ quá trình Kết quả nghiên cứu của Finke, Ward và Smith (1992); Sternberg & Davidson (1995). Fike và các đồng nghiệp đề xuất mô hình sáng tạo có hai giai đoạn: giai đoạn ý tưởng và giai đoạn khai thác. Ở giai đoạn ý tưởng, cá nhân xây dựng dạng thức tâm lý, được gọi là cấu trúc tiền sáng tạo, nó có các thuộc tính được sử dụng để xúc tiến phát kiến sáng tạo.
Trong giai đoạn khám phá, các thuộc tính này được dùng để đi đến ý tưởng sáng tạo. Hàng loạt các quá trình tâm lý tham gia vào hai giai đoạn này như sự phục hồi, liên tưởng, tổng hợp, chuyển hoá, dịch chuyển tương tự và phân nhóm. Weisberg (1986, 1993) cho rằng tư duy sáng tạo liên quan đến quá trình nhận thức thông thường nhằm tạo ra sản phẩm đặc sắc. Nghiên cứu trường hợp các nhà sáng tạo độc đáo và nghiên cứu thử nghiệm trên những người bình thường, Weisberg cố gắng chỉ ra rằng thời điểm loé sáng phụ thuộc vào việc chủ thể sử dụng các quá trình nhận thức phù hợp (cũng như sự dịch chuyển tương tự), sử dụng các kiến thức đang lưu giữ trong trí nhớ.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Arnold (1964) và Guilford (1967) coi sáng tạo như là một quá trình giải quyết vấn đề, vì mỗi tình huống giải quyết vấn đề đòi hỏi cá nhân tư duy sáng tạo. Đứng trước một vấn đề, con người huy động vốn kinh nghiệm của mình, kết hợp chúng lại thành cấu trúc mới và với cấu dạng mới này của kinh nghiệm thì vấn đề đặt ra được giải quyết. Tâm lý học ngày nay chia quá trình sáng tạo thành bốn pha: chuẩn bị, ấp ủ, bừng sáng và chứng thực. Mỗi pha đòi hỏi ở cá nhân sáng tạo một trạng thái tâm lý nhất định.
Trạng thái đầu tiên mà người sáng tạo phải trải nghiệm là căng thẳng (hưng phấn), sau đó là thất vọng, ở pha thứ ba là niềm vui và trong pha cuối cùng là sự tập trung cao độ. Dưới góc độ quá trình, Torrance E. Quá trình sáng tạo ở đây bao gồm tư duy tưởng tượng bay bổng, phát hiện, tò mò, thử nghiệm, thăm dò và đánh giá, …. Như vậy, dưới góc độ quá trình, sáng tạo là một quá trình hoạt động được kết thúc ở một sản phẩm mới, độc đáo, được một nhóm người nào đó ở một thời điểm tương ứng thừa nhận là có ích.
Hướng thứ ba, tiếp cận nghiên cứu sáng tạo dưới góc độ sản phẩm Nhà tâm lý học người Mỹ, De Bono E. với hướng tiếp cận thực dụng trong nghiên cứu sáng tạo đã tập trung nghiên cứu thực tiễn vấn đề phát triển tư duy sáng tạo và những sản phẩm mang tính thương mại (De Bono, 1985, 1992). De Bono không quan tâm đến lý luận mà ông quan tâm đến thực tiễn. Ông khuyến nghị dùng công cụ tập trung vào các khía cạnh của ý tưởng cộng (pluses - P), ý tưởng trừ (minuses - M) và hứng thú (I) (PMI) để phát triển các ý tưởng sáng tạo.
Một công cụ khác mà Bono dùng là mũ tư duy (six thinking hats) để khuyến khích tạo ra sản phẩm sáng tạo từ những quan điểm khác 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Osborn (1953) đi theo khuynh hướng này dựa trên kinh nghiệm quảng cáo của mình, phát triển kỹ thuật công não để khuyến khích mọi người giải quyết vấn đề một cách sáng tạo bằng cách tìm nhiều lời giải có thể trong một không khí xây dựng hơn là phê phán. Von Oech (1986) đã khuyến cáo mọi người cần thích nghi với các vai trò người khám phá, nghệ sĩ, luật sư và chiến binh để nuôi dưỡng sản phẩm sáng tạo.