Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Làng nghề chế biến thủy sản đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho lao động khu vực nông thôn và ven biển Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất tại các làng nghề phần lớn mang tính tự phát, quy mô hộ gia đình, công nghệ thủ công lạc hậu và mặt bằng sản xuất xen cài trong khu dân cư. Thực trạng này dẫn đến lượng chất thải rắn hữu cơ và nước thải phát sinh không qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường, gây ô nhiễm nghiêm trọng về nguồn nước và mùi hôi.
Tại thị trấn Vàm Láng, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang, nghề làm cá khô hình thành từ lâu đời và gắn liền với hoạt động khai thác thủy sản cửa sông Soài Rạp. Hoạt động chế biến cá khô tại đây tiêu thụ hơn 5.000 tấn cá tươi mỗi năm, cung cấp cho thị trường khoảng 1.500 tấn khô các loại, giải quyết việc làm cho hơn 500 lao động địa phương. Mặc dù vậy, quy trình sản xuất chủ yếu là thủ công, tận dụng sân nhà, lề đường, bãi đất trống để sơ chế và phơi phóng; nguồn nước thải sản xuất thải thẳng vào hệ thống thoát nước công cộng dẫn ra rạch Cần Lộc và sông Soài Rạp. Việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại làng nghề còn nhiều bất cập, tỷ lệ tuân thủ thấp và công tác quản lý nhà nước gặp nhiều hạn chế.
Đề tài luận văn tập trung giải quyết 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Phân tích, làm rõ khái niệm về làng nghề, bảo vệ môi trường làng nghề, pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề, đặc trưng môi trường làng nghề, nội dung, đặc điểm và vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề.
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng môi trường làng nghề tại thị trấn Vàm Láng.
- Nghiên cứu, đánh giá hiện trạng thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường của các cơ sở sản xuất và công tác quản lý nhà nước về môi trường tại địa phương, chỉ ra các hạn chế và tồn tại.
- Đề xuất các giải pháp kỹ thuật và giải pháp quản lý nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường tại làng nghề chế biến cá khô thị trấn Vàm Láng.
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Làng nghề chế biến cá khô thị trấn Vàm Láng, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang. Phạm vi nghiên cứu giới hạn ở hiện trạng phát sinh chất thải môi trường và sự tuân thủ các quy định pháp luật bảo vệ môi trường của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất cá khô trên địa bàn thị trấn trong thời gian từ tháng 03/2019 đến tháng 07/2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Đề tài vận dụng hệ thống lý luận quản lý môi trường kết hợp với khung quy phạm pháp luật môi trường hiện hành của Việt Nam để làm căn cứ đánh giá:
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 (đặc biệt là Điều 70 về bảo vệ môi trường làng nghề); Nghị định số 19/2015/NĐ-CP (Chương IV quy định về bảo vệ môi trường làng nghề); Quyết định số 557/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể bảo vệ môi trường làng nghề đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030; Nghị quyết số 41/NQ-TW của Bộ Chính trị; Thông tư số 46/2011/TT-BTNMT và Thông tư số 31/2016/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Thông tư số 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về tiêu chí công nhận làng nghề.
- Khung lý luận về thực thi pháp luật: Làm rõ các chủ thể thực thi pháp luật môi trường (cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở sản xuất kinh doanh, cộng đồng dân cư), nội dung kiểm soát ô nhiễm nước, không khí, chất thải rắn và vai trò của pháp luật trong quản lý nhà nước đối với môi trường làng nghề.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai thông qua sự phối hợp giữa thu thập dữ liệu thứ cấp và điều tra thực nghiệm:
- Phương pháp kế thừa và thu thập dữ liệu thứ cấp: Kế thừa các tài liệu, báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo hiện trạng môi trường từ đề án "Cải tạo vệ sinh môi trường thị trấn Vàm Láng" và số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, UBND thị trấn Vàm Láng.
- Phương pháp quan trắc, lấy mẫu môi trường: Thu thập và tổng hợp dữ liệu phân tích mẫu môi trường theo hệ thống Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN) và ISO tương ứng:
- 06 mẫu nước thải sinh hoạt đô thị (SH1 đến SH6) lấy tại miệng cống xả công cộng theo TCVN 5999:1995 (ISO 5667-10:1992) và TCVN 6663-3:2008 (ISO 5667-3:2003).
- 08 mẫu nước thải chế biến thủy sản tại các doanh nghiệp (CB1 đến CB8) theo TCVN 6663-1:2011, TCVN 5999:1995 và TCVN 6663-3:2008.
- 05 mẫu nước biển ven bờ dọc sông Soài Rạp (NB1 đến NB5) theo TCVN 5998:1995 (ISO 5667-9:1987).
- 08 mẫu không khí xung quanh tại các vị trí tập trung mùi hôi (KK1 đến KK8) theo TCVN 5973:1995 (ISO 9359:1989).
- Phương pháp điều tra thực địa: Tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi với tổng cộng 63 phiếu điều tra, phân bổ cụ thể: 13 phiếu phỏng vấn doanh nghiệp chế biến cá khô, 20 phiếu khảo sát các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình, và 30 phiếu phỏng vấn cộng đồng dân cư sinh sống xung quanh khu vực làng nghề; kết hợp phỏng vấn sâu cán bộ quản lý môi trường tại địa phương.
| Loại dữ liệu / Mẫu khảo sát | Số lượng | Tiêu chuẩn / Phương pháp thu thập | Mục đích đánh giá |
|---|---|---|---|
| Nước thải sinh hoạt đô thị | 06 mẫu (SH1 - SH6) | TCVN 5999:1995, TCVN 6663-3:2008 | Mức độ ô nhiễm nước thải từ khu dân cư |
| Nước thải chế biến cá khô | 08 mẫu (CB1 - CB8) | TCVN 6663-1:2011, TCVN 5999:1995 | Chất lượng xả thải của doanh nghiệp chế biến |
| Nước biển ven bờ | 05 mẫu (NB1 - NB5) | TCVN 5998:1995 | Chất lượng nguồn tiếp nhận sông Soài Rạp |
| Không khí xung quanh | 08 mẫu (KK1 - KK8) | TCVN 5973:1995 | Mức độ phát tán mùi hôi và ô nhiễm không khí |
| Phiếu điều tra thực địa | 63 phiếu | Bảng hỏi phỏng vấn trực tiếp | Thực trạng sản xuất, xả thải và tuân thủ pháp luật |
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tài liệu
Chương này hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về làng nghề và pháp luật bảo vệ môi trường làng nghề tại Việt Nam. Tác giả trình bày bức tranh tổng thể về 5.400 làng nghề trên cả nước (hơn 1.800 làng nghề được công nhận, thu hút hơn 11 triệu lao động). Văn bản dẫn chứng số liệu khảo sát 52 làng nghề trên toàn quốc: 46% làng nghề bị ô nhiễm nặng ở cả 3 dạng (nước, không khí, chất thải rắn), 27% ô nhiễm vừa và 27% ô nhiễm nhẹ; lao động làng nghề đối mặt với nguy cơ sức khỏe cao (95% tiếp xúc với bụi, 85,9% với nhiệt, 59,6% với hóa chất).
Tác giả đi sâu phân tích đặc điểm địa bàn nghiên cứu tại thị trấn Vàm Láng (thành lập theo Nghị quyết 37/NQ-CP năm 2010, diện tích tự nhiên 600 ha, dân số năm 2015 là 15.207 người, lao động ngư nghiệp chiếm 64,30%). Làng nghề được công nhận chính thức từ tháng 8/2013, hiện có 26 doanh nghiệp và cơ sở chế biến thủy sản (trong đó có 13 doanh nghiệp chế biến cá khô quy mô từ 25 đến 50 lao động/cơ sở, các cơ sở nhỏ lẻ chiếm 38 - 40%). Chương 1 phân tích chi tiết hai quy trình công nghệ chế biến cá khô đặc thù:
- Quy trình muối nước: Cá tươi -> Cắt đầu, loại nội tạng, vảy -> Rửa cá -> Xẻ thân cá -> Ngâm nước muối bão hòa (khoảng 30 phút) -> Rửa lại qua 3 chậu nước ngọt -> Để ráo -> Phơi nắng (2 nắng) -> Đóng gói bao bì.
- Quy trình muối khô: Trình tự tương tự quy trình muối nước nhưng thay bước ngâm muối bằng việc rắc muối bột trực tiếp lên thân cá và ủ trong 01 giờ.
Văn bản lượng hóa dòng vật chất: Trung bình một cơ sở chế biến quy mô 1 tấn cá tươi/ngày tạo ra 300 kg cá khô thành phẩm, phát sinh 05 m3 nước thải/ngày và 200 kg chất thải rắn hữu cơ/ngày (đầu cá, ruột cá, vây, vảy).
Chương 2. Phương pháp nghiên cứu
Trình bày chi tiết cơ sở khoa học của các phương pháp thu thập số liệu, kế thừa dữ liệu và điều tra thực địa. Chương này mô tả vị trí tọa độ, đặc điểm kỹ thuật và mã hóa các điểm lấy mẫu môi trường (bảng danh mục mẫu SH1-SH6, CB1-CB8, NB1-NB5, KK1-KK8). Thiết lập quy trình khảo sát xã hội học với 63 phiếu điều tra phân tầng theo từng nhóm đối tượng cụ thể nhằm đảm bảo tính đại diện và độ tin cậy của thông tin thu thập về quy trình sản xuất, nguồn nước sử dụng, hệ thống thoát nước, xử lý chất thải và nhận thức pháp lý của người dân.
Chương 3. Kết quả nghiên cứu
Trình bày các phát hiện thực tế về môi trường và thực thi pháp luật tại thị trấn Vàm Láng:
- Hiện trạng môi trường: Không khí bị ô nhiễm mùi hôi tanh cục bộ do quá trình phơi cá ngoài trời, hoạt động của các bếp than tổ ong sấy cá khi trời mưa và quá trình phân hủy chất thải hữu cơ. Nước thải chế biến thủy sản chứa hàm lượng chất hữu cơ cao (BOD5, COD, TSS), độ mặn lớn và chất béo, phần lớn chưa qua hệ thống xử lý hoặc chỉ qua bể lắng lọc sơ sài đã thải thẳng ra rạch Cần Lộc và sông Soài Rạp. Chất thải rắn phát sinh khoảng 200 kg/tấn cá tươi, dù một phần được tận dụng làm thức ăn chăn nuôi nhưng khâu thu gom, tập kết chưa khép kín, còn rơi vãi gây ô nhiễm đất và nước rỉ rác.
- Hiện trạng thực thi pháp luật của doanh nghiệp: Kết quả điều tra 13 doanh nghiệp và 20 cơ sở nhỏ lẻ cho thấy phần lớn cơ sở hoạt động trên mặt bằng nhà ở chật hẹp, thiếu diện tích xây dựng hệ thống xử lý chất thải đạt chuẩn. Hầu hết các cơ sở nhỏ lẻ chưa lập kế hoạch bảo vệ môi trường, không có hệ thống xử lý nước thải chuyên biệt, xả thải trực tiếp vào cống dân sinh. Nhận thức pháp luật của chủ cơ sở còn thấp, ưu tiên tối đa hóa lợi nhuận và xem nhẹ nghĩa vụ bảo vệ môi trường.
- Đánh giá công tác quản lý nhà nước: Bộ máy quản lý môi trường cấp xã/thị trấn thiếu biên chế chuyên trách, năng lực cán bộ chưa đồng đều; công tác thanh tra, kiểm tra còn mang tính nhắc nhở, thiếu chế tài xử phạt đủ mạnh; quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề chậm triển khai khiến sản xuất tiếp tục xen lẫn trong khu dân cư.
Chương 4. Giải pháp nâng cao hiệu quả
Tác giả đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện gồm hai nhóm chính:
- Nhóm giải pháp kỹ thuật: Áp dụng quy trình sản xuất sạch hơn, thu gom triệt để chất thải rắn ngay tại công đoạn sơ chế để làm bột cá hoặc thức ăn gia súc; cải tiến quy trình rửa cá nhằm tiết kiệm nước; xây dựng các mô hình xử lý nước thải phân tán hoặc bể tự hoại cải tiến kết hợp lọc sinh học phù hợp với quy mô hộ gia đình; đầu tư kho sấy, tủ sấy năng lượng mặt trời thay thế bếp than sấy cá thủ công.
- Nhóm giải pháp quản lý nhà nước (06 giải pháp):
- Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường theo hướng ban hành quy chuẩn riêng biệt, phù hợp với đặc thù làng nghề chế biến thủy sản.
- Nâng cao năng lực, chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý môi trường cấp huyện và thị trấn.
- Thực hiện quy hoạch hợp lý làng nghề gắn với bảo vệ môi trường, xúc tiến di dời các cơ sở sản xuất vào Cụm công nghiệp - dịch vụ hậu cần nghề cá tập trung.
- Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát môi trường định kỳ và đột xuất, xử phạt nghiêm các hành vi cố tình vi phạm.
- Ưu tiên nguồn lực tài chính, tạo điều kiện cho các hộ làm nghề tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để đổi mới công nghệ và xây dựng công trình bảo vệ môi trường.
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng và phát huy vai trò của tổ chức tự quản bảo vệ môi trường tại khu dân cư.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu đạt được các kết quả cụ thể phản ánh chính xác thực trạng của làng nghề cá khô Vàm Láng:
- Thống kê toàn diện cơ cấu ngành nghề tại địa bàn: Thị trấn có 26 cơ sở, doanh nghiệp chế biến thủy sản, trong đó có 13 doanh nghiệp sản xuất cá khô (quy mô dưới 50 nhân viên/cơ sở) và hàng chục hộ gia đình nhỏ lẻ (5-10 lao động/hộ). Lượng cá tươi tiêu thụ hàng năm đạt hơn 5.000 tấn, cung cấp 1.500 tấn khô thương phẩm ra thị trường.
- Xác định định mức và nguồn phát thải: Đánh giá chi tiết 2 sơ đồ dòng công nghệ (muối nước và muối khô), lượng hóa được định mức trung bình phát sinh 05 m3 nước thải và 200 kg chất thải rắn trên 1 tấn cá tươi chế biến/ngày tại cơ sở sản xuất điển hình.
- Làm rõ thực trạng tuân thủ pháp lý và quản lý môi trường: Kết quả điều tra 63 đối tượng khẳng định tỷ lệ tuân thủ các quy định bảo vệ môi trường tại các hộ gia đình còn rất thấp; công tác thanh tra môi trường cấp cơ sở chủ yếu dừng ở mức nhắc nhở.
Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, luận văn là một trong những công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện đầu tiên đánh giá thực trạng thực thi pháp luật bảo vệ môi trường tại một làng nghề chế biến thủy sản đặc thù ở khu vực Nam Bộ (vùng ven biển tỉnh Tiền Giang). Kết quả nghiên cứu cung cấp bộ dữ liệu thực chứng và luận cứ thực tiễn quan trọng, phục vụ trực tiếp cho chính quyền huyện Gò Công Đông và thị trấn Vàm Láng trong việc lập quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề và hoạch định chính sách bảo vệ môi trường giai đoạn tiếp theo.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của đề tài: Do thời gian thực hiện nghiên cứu ngắn (khoảng gần 3 tháng từ 01/03/2019 đến 29/07/2019) và địa bàn có nhiều cơ sở sản xuất nhỏ lẻ hoạt động phân tán, đề tài chưa thể bao quát, lấy mẫu phân tích toàn bộ các hộ sản xuất cá khô quy mô gia đình tại tất cả các khu phố.
- Hướng nghiên cứu mở rộng: Mở rộng phạm vi khảo sát biến động chất lượng nước thải và không khí theo các mùa vụ đánh bắt khác nhau trong năm (mùa gió chướng và mùa mưa); nghiên cứu thực nghiệm thiết kế mô hình hệ thống xử lý nước thải nhiễm mặn đặc thù với chi phí thấp, phù hợp áp dụng cho các cụm hộ gia đình sản xuất cá khô.
Giá trị tham khảo
Đồ án tốt nghiệp là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao đối với:
- Sinh viên, học viên và giảng viên các ngành Công nghệ Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường, Luật Môi trường và Kinh tế Môi trường: Tham khảo phương pháp tiếp cận kết hợp giữa khảo sát xã hội học, đánh giá hiện trạng pháp lý và phân tích kỹ thuật công nghệ sản xuất làng nghề.
- Cán bộ quản lý nhà nước tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Gò Công Đông, UBND thị trấn Vàm Láng và các địa phương ven biển có làng nghề chế biến thủy sản: Tham khảo số liệu dòng thải, định mức chất thải và 06 nhóm giải pháp quản lý để xây dựng phương án di dời, quy hoạch làng nghề và tăng cường kiểm tra môi trường tại địa phương.
- Các chương mục đáng tham khảo nhất: Chương 1 (mục phân tích 2 quy trình chế biến cá khô và sơ đồ dòng thải) và Chương 4 (hệ thống giải pháp quản lý và kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm).
Câu hỏi thường gặp
1. Định mức phát sinh chất thải rắn và nước thải của một cơ sở chế biến cá khô tại Vàm Láng là bao nhiêu? Theo kết quả khảo sát thực địa của tác giả tại cơ sở chế biến cá khô quy mô lớn, từ 1 tấn cá tươi nguyên liệu sản xuất ra 300 kg cá khô thành phẩm/ngày, lượng nước thải phát sinh trung bình là 05 m3/ngày và lượng chất thải rắn (đầu, ruột, vây, vảy) phát sinh trung bình là 200 kg/ngày.
2. Điểm khác biệt về nguồn phát sinh chất thải giữa quy trình muối nước và quy trình muối khô là gì? Quy trình muối nước có 4 công đoạn tạo ra nước thải (rửa cá ban đầu, ngâm nước muối bão hòa, rửa lại qua 3 chậu nước ngọt, làm ráo), 2 công đoạn tạo chất thải rắn và 1 công đoạn tạo mùi hôi. Trong khi đó, quy trình muối khô thay thế khâu ngâm muối bằng việc rắc muối bột trực tiếp nên giảm bớt được 1 công đoạn phát sinh nước thải.
3. Mẫu điều tra thực địa trong đề tài được phân bổ như thế nào? Tác giả đã thực hiện phỏng vấn thu thập thông tin thông qua 63 phiếu điều tra trực tiếp, gồm 13 phiếu khảo sát doanh nghiệp chế biến cá khô, 20 phiếu khảo sát các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ và 30 phiếu phỏng vấn người dân sinh sống trong khu vực làng nghề, kết hợp phỏng vấn cán bộ quản lý môi trường địa phương.
4. Khung văn bản pháp luật chính nào được tác giả sử dụng để đánh giá việc thực thi bảo vệ môi trường tại làng nghề? Tác giả căn cứ vào Luật Bảo vệ môi trường 2014 (Điều 70), Nghị định 19/2015/NĐ-CP (Điều 15 đến Điều 21 Chương IV), Quyết định 557/QĐ-TTg, Thông tư 46/2011/TT-BTNMT, Thông tư 31/2016/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Thông tư 116/2006/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
5. Vì sao các cơ sở chế biến cá khô nhỏ lẻ tại Vàm Láng gặp khó khăn trong việc xử lý chất thải đạt quy chuẩn? Các cơ sở nhỏ lẻ sản xuất theo mô hình hộ gia đình (sân sau), diện tích chật hẹp kết hợp nơi ở với nơi sản xuất, thiếu vốn đầu tư công nghệ, sản xuất mang tính mùa vụ, thủ công và nằm xen kẽ trong khu dân cư nên không có mặt bằng để xây dựng hệ thống xử lý nước thải hay bãi phơi đạt chuẩn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Võ Phương Lam đã phản ánh một cách toàn diện và khách quan bức tranh môi trường cùng thực trạng thực thi pháp luật tại Làng nghề chế biến cá khô thị trấn Vàm Láng, tỉnh Tiền Giang. Công trình đã làm sáng tỏ mối quan hệ giữa công nghệ sản xuất thủ công, đặc điểm quy trình chế biến với lượng phát thải chất thải rắn và nước thải hữu cơ ra môi trường. Trên cơ sở đối chiếu với các quy định pháp luật hiện hành và hạn chế trong công tác quản lý cấp cơ sở, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật và quản lý đồng bộ nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững cho làng nghề ven biển.