phần mở đầu bài diễn thuyết, “ ãy nhớ rằng ngay phút đầu tiên hoặc thứ hai, hay thậm chí 10 hoặc 20 giây đầu trong bài phát biểu c a bạn chính là lúc sự hào hứng c a khán giả lên cao nhất” [18; tr.149]; trong quá trình trình bày bài nói cần đưa khán giả qua nhiều cung bậc cảm xúc nhất có thể; trau truốt bài diễn thuyết bằng nghệ thuật tu từ; sử dụng yếu tố hài hước; làm chủ khả năng kiểm soát lời nói và khả năng truyền đạt phi ngôn ngữ. Đồng thời tác giả đặc biệt m 18 chú đến việc khai thác các yếu tố thuộc về phương tiện kỹ thuật như: tạo slide truyền cảm hứng, sử dụng video hiệu quả, sử dụng bục diễn thuyết và các ăn mặc để thành công trên sân khấu. Tác giả Carmine Gallo (2018) [26] với cuốn sách “ ùng biện kiểu TED3 - 9 bí quyết diễn thuyết trước công chúng c a những bộ óc hàng đầu thế giới” cho rằng để hùng biện hấp dẫn, người nói phải thành thục nghệ thuật kể chuyện và biết cách trò chuyện với khán giả. Tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới yếu tố cái mới trong bài nói chuyện, theo tác giả “Não người yêu thích sự mới lạ.
Một yếu tố không quen thuộc, bất thường, không ngờ tới trong một bài thuyết trình sẽ quyến rũ khán giả” [26; tr.171] và “ ọc hỏi điều gì đó mới sé kích hoạt khu vực tưởng thưởng trong não, giống như thuốc phiện hoặc đánh bạc” [26; tr. Bên cạnh cái mới trong bài thuyết trình, tác giả cho rằng cần tạo ra những khoảnh khắc gây kinh ngạc “Những khoảnh khắc gây kinh ngạc tạo ra điều mà các nhà thần kinh học gọi là “những sự kiện chứa đầy xúc cảm”, một trạng thái khi cảm xúc được dâng cao, khiến cho người nghe có khuynh hướng nhớ được thông điệp c a bạn và hành động theo đó” [26; tr.206] và cần tạo ra sự vui vẻ vì “sự hài hước làm giảm sự đề phòng, làm cho người nghe dễ tiếp thu thông điệp c a bạn hơn. Nó khiến bạn được yêu mến hơn và mọi người thường có xu hướng hợp tác hoặc ng hộ những người họ yêu mến” [26; tr. * Những công trình nghiên cứu ở trong nước Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu đề cập đến các khía cạnh tạo nên THD của TTM, có thể kể đến những công trình tiêu biểu như: Tác giả Nguyễn Bá Sinh (2012) [69] trong Luận án tiến sĩ Báo Chí học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền với đề tài “Tính hấp dẫn c a báo Đảng ở nước ta trong giai đoạn hiện nay (Khảo sát báo Nhân dân và một số báo Đảng địa phương từ năm 2005 đến năm 2011)” đã luận giải khái niệm “hấp dẫn”, “tính hấp dẫn”, “tính hấp dẫn c a báo chí” và “tính hấp dẫn c a báo Đảng”.
Theo tác giả THD của báo chí thuộc phạm trù tính chất, phẩm chất, m 19 đây là vấn đề thuộc phẩm chất của hoạt động báo chí, là điều mong muốn, là cái cần và nên phấn đấu đạt được. Đồng thời tác giả đã đưa ra những tiêu chí đánh giá THD của báo Đảng, tiêu chí đánh giá THD của một tác phẩm báo Đảng và yêu cầu đối với chủ thể trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Những luận giải của tác giả về các khái niệm THD của báo chí, THD của báo Đảng và các tiêu chí đánh giá là gợi quan trọng cho tác giả luận án. Khi đánh giá về THD của TTM ở góc độ tâm l học, tác giả Hà Thị Bình Hòa trong Luận án tiến sỹ nghiên cứu về “Nhu cầu thông tin c a khách thể tuyên truyền”, (2001) [31], cho rằng, nhu cầu thông tin của khách thể TT được xác định là những đòi hỏi mang tính tự giác của cá nhân và nhóm xã hội (trong điều kiện cụ thể của hoạt động TT) về những tin tức, thông báo có liên quan đến lợi ích của họ.
Những đòi hỏi đó quy định sự lựa chọn thông tin của khách thể. Nhu cầu thông tin của khách thể TT được biểu hiện qua nội dung, hình thức, phương tiện, mục đích tiếp nhận thông tin, thông tin ngược và các mức độ của nhu cầu, trong đó nội dung là biểu hiện tập trung, cơ bản nhất của nhu cầu thông tin. Trong “Chương trình bồi dưỡng chuyên đề công tác tuyên truyền miệng, báo cáo viên”, (2008) [71], tác giả Ngô Văn Thạo cho rằng TTM là hình thức TT đặc biệt, có vai trò rất quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng. Theo tác giả để nâng cao THD của TTM cần chú tới những vấn đề như: Tìm hiểu về đặc điểm của đối tượng TT; Xác định mục đích, chủ đề của bài nói; Tìm hiểu không gian, thời gian diễn ra buổi TTM; Chuẩn bị tư liệu, tài liệu, đề cương bài nói chuyện; Nội dung TTM phải có thông tin mới, thời sự, đảm bảo tính tư tưởng, tính chiến đấu và đáp ứng cao nhất yêu cầu thông tin của một loại đối tượng cụ thể; Phải có phương pháp trình bày và sử dụng kênh ngôn ngữ và kênh phi ngôn ngữ phù hợp.
Trong bài viết “Nâng cao kỹ năng tuyên truyền miệng cho báo cáo viên” đăng trên Tạp chí Tuyên giáo ngày 27/8/2013 [38], tác giả Lương Khắc Hiếu đã chỉ rõ những điều kiện để tăng THD như : BCV cần phải có kỹ năng m 20 sử dụng ngôn ngữ văn phong hội thoại, kỹ năng tạo lập sự chú gây ấn tượng với người nghe và trả lời câu hỏi khi đối thoại với người nghe… mới có thể hấp dẫn và thu hút sự chú của đối tượng. Tác giả nhắc nhở ngoài việc lựa chọn ngôn ngữ văn phong phát biểu miệng, cáo cáo viên phải đặt mình vào vị trí của người nghe. và làm thế nào để người nghe hiểu được mình nói. Theo tác giả, BCV cần xử l tốt lượng dư thừa trong nội dung thông tin, sử dụng những yếu tố bất ngờ để tạo ra câu mới, độc đáo, sử dụng sáng tạo linh hoạt một số những thành ngữ, tục ngữ; sử dụng các con số để chứng minh cho luận điểm mình đưa ra, tăng THD đối với người nghe,.
Để làm được điều này đòi hỏi BCV phải có một đề cương nội dung phát biểu một cách mạch lạc, trong sáng, dễ hiểu. Trong bài viết bàn về “Nâng cao tính thuyết phục trong công tác tuyên truyền miệng hiện nay” (Tạp chí Báo cáo viên, số 10, tháng 10- 2013) [58], tác giả Nguyễn Chí Mỳ cho rằng: để nâng cao THD, tính thuyết phục của TTM, BCV cần chú những vấn đề sau: Phải làm cho quy luật, phạm trù, khái niệm sống động trong bối cảnh cụ thể thì TT mới hấp dẫn, mới có sức thuyết phục. Đồng thời BCV chỉ rõ mối liên hệ, tính logic của các sự kiện và sự vận động phát triển của chúng thì người nghe mới nhận thức được bản chất của vấn đề; Nắm vững mục đích TT và làm chủ nội dung TT. THD, tính thuyết phục trong công tác TTM chính là làm cho mục đích TT được hiện thực hoá và có sức sống mạnh mẽ; Đồng thời BCV phải làm chủ nội dung thì diễn đạt mới thanh thoát, mới có sức hấp dẫn và mới có sức thuyết phục; Nắm và hiểu sâu sắc đối tượng TT: khi xem xét, nghiên cứu, đánh giá đối tượng, BCV thường xuyên phải chú đến mục tiêu, lợi ích và tâm trạng của đối tượng.
Sự quan tâm đó càng sâu sát, tỷ mỉ bao nhiêu thì cơ hội thành công nâng cao tính thuyết phục trong TT càng hiệu quả bấy nhiêu; Tăng cường đối thoại sẽ nâng cao THD, tính thuyết phục trong công tác TTM. Để nâng cao sức thuyết phục trong đối thoại, bên cạnh chuẩn bị nội dung công phu là yếu tố quyết định sự thành công của đối thoại thì kỹ năng và nghệ thuật đối thoại m 21 cũng góp phần rất quan trọng vào sự thành bại của đối thoại; BCV phải tâm huyết, yêu nghề, đam mê với công việc. Chỉ có tâm huyết, yêu nghề, đam mê với công việc, thì khi TT mới có “hồn”, mới có sức truyền cảm và mới có sức thuyết phục… Tác giả Lương Khắc Hiếu [39] trong bài viết “Cách nâng cao hiệu quả tuyên truyền miệng” đăng trên Tạp chí Tuyên giáo số 8 năm 2018 đã phân tích một cách sâu sắc về cách sử dụng ngôn ngữ nói của BCV, tác giả cho rằng “ngôn ngữ là công cụ quan trọng nhất bảo đảm cho cán bộ TT, BCV thực hiện mục đích hoạt động c a mình”, để sử dụng có hiệu lời nói, nâng cao THD của bài nói BCV phải hiểu những đặc điểm của ngôn nói như: tính hội thoại, tính chính xác, đúng đắn, tính phổ thông và tính truyền cảm. Đồng thời để thu hút, lôi cuốn đối tượng tập trung vào bài nói chuyện, tác giả yêu cầu BCV phải sử dụng phương tiện trực quan kết hợp với phương tiện ngôn ngữ, sử dụng con số, số liệu thực tế, sử dụng yếu tố hài hước, thực hiện đối thoại, tương tác.
Nghiên cứu về THD của TTM ở một khía cạnh khác, tác giả Song Minh [55] trong bài viết “Một số lỗi cơ bản khi tuyên truyền miệng” đăng trên Tạp chí Tuyên giáo số 8 năm 2021 cho rằng trong quá trình diễn thuyết của đội ngũ BCV, tuyên truyền viên có thể mắc phải những “lỗi” như: lỗi thuộc về kỹ năng (diễn ngôn thiếu hấp dẫn), lỗi thuộc về thói quen (quá phụ thuộc công nghệ), lỗi lại thuộc về bản tính, nhược điểm cá nhân (khoe thành tích), lỗi do ít kinh nghiệm để xử l (cháy giáo án, không phân biệt đối tượng tiếp nhận thông tin, thiếu tương tác)…Với mỗi lỗi, lại tương ứng với cách sửa lỗi khác nhau. Lỗi nhược điểm cá nhân, thì cần nhận rõ, khắc phục. Lỗi kỹ năng thì không cách gì khác hơn là phải thường xuyên trau dồi, lắng nghe góp , phê bình, tích cực học tập những BCV kinh nghiệm. Việc nhận ra lỗi, sửa lỗi cũng cốt để hướng tới những buổi TT, trao đổi, quán triệt hiệu quả, hạn chế tối đa những giờ quán triệt, học tập “online, lướt mạng” cho hết thời gian… m 22 Có thể thấy các nghiên cứu về THD của TTM tuy chưa nhiều, song hầu hết các tác giả đều thống nhất khi bàn về các yếu tố tạo nên THD của TTM, đó là: Uy tín của người nói; Các yếu tố phi ngôn ngữ (nét mặt, trang phục, tư thế, cử chỉ.); Nội dung TTM (cách sử dụng, sắp xếp các tưởng, cách đặt vấn đề, bình luận và chuẩn bị câu hỏi); Phương pháp diễn đạt (cách sử dụng ngôn ngữ, ngữ điệu, cường độ nói); Nhu cầu, hứng thú của người nghe; Không gian TTM như: màu sắc, ánh sáng, âm thanh.