Luận án tiến sĩ tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người việt nam

Nghiên cứu luận án tiến sĩ về tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ của vốn xã hội người Việt Nam, phân tích sâu sắc.

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ xã hội học

2016

203
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

1.1. Các nghiên cứu về mạng lưới quan hệ xã hội

1.1.1. Khái niệm mạng lưới quan hệ xã hội

1.1.2. Các đặc tính của mạng lưới quan hệ xã hội

1.1.3. Đặc trưng quan hệ giúp đỡ trong mạng lưới quan hệ xã hội

1.1.4. Các nghiên cứu về tính chất có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội

1.1.4.1. Tính chất có đi có lại trong khái niệm vốn xã hội
1.1.4.2. Tính chất có đi có lại như một chỉ báo đo lường vốn xã hội
1.1.4.3. Tính chất có đi có lại của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội

1.1.5. Các nghiên cứu về cách đo tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội

1.1.6. Những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Cơ sở lý luận

2.1.1. Nguyên lý mối liên hệ phổ biến và quan điểm lịch sử cụ thể

2.1.2. Nhóm lý thuyết trò chơi

2.1.3. Nhóm lý thuyết xã hội học tiếp cận theo quan điểm kinh tế học hành vi

2.1.4. Nhóm lý thuyết về vốn xã hội

2.1.5. Khung lý thuyết của luận án

2.2. Thiết kế nghiên cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Thao tác hóa khái niệm và công cụ đo

2.3.2. Cơ sở dữ liệu

2.3.3. Các chiến lược và mô hình phân tích

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM QUAN HỆ GIÚP ĐỠ TRONG VỐN XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

3.1. Mức độ đối xứng và bất đối xứng về số lượng loại hình giúp đỡ

3.2. Mức độ đối xứng và bất đối xứng về tính chất loại hình giúp đỡ

3.3. Mức độ đối xứng và bất đối xứng về hoàn cảnh giúp đỡ

3.4. Thảo luận về mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH ĐỐI XỨNG VÀ BẤT ĐỐI XỨNG CỦA QUAN HỆ GIÚP ĐỠ TRONG VỐN XÃ HỘI CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

4.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính đối xứng và bất đối xứng về số lượng loại hình giúp đỡ

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính đối xứng và bất đối xứng về tính chất loại hình giúp đỡ

4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến tính đối xứng và bất đối xứng về hoàn cảnh giúp đỡ

4.4. Thảo luận về các yếu tố ảnh hưởng đến tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội của người Việt Nam

KẾT LUẬN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan về tính đối xứng và bất đối xứng quan hệ giúp đỡ người Việt

Trong xã hội Việt Nam, tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ người Việt là một đặc trưng quan trọng phản ánh bản sắc văn hóa và cấu trúc xã hội. Quan hệ giúp đỡ không chỉ đơn thuần là trao đổi vật chất mà còn bao gồm các giúp đỡ về tinh thần, sức lao động và thông tin. Tính chất có đi có lại là nền tảng của vốn xã hội, trong đó tính đối xứng và bất đối xứng là hai mặt của cùng một vấn đề, thể hiện qua ba chiều cạnh: số lượng loại hình giúp đỡ, tính chất loại hình và hoàn cảnh giúp đỡ. Tuy nhiên, ở Việt Nam, việc đo lường và phân tích sâu sắc về đặc điểm này còn hạn chế, đặc biệt là trong mối quan hệ giữa bạn bè thân và trong gia đình. Luận án của Cao Thị Hải Bắc (2016) đã mở ra hướng nghiên cứu mới, kết hợp phương pháp định lượng và định tính để làm rõ mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ của người Việt.

1.1. Khái niệm và vai trò của tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ

Khái niệm tính đối xứng trong quan hệ giúp đỡ được hiểu là sự tương ứng về số lượng, tính chất và hoàn cảnh giúp đỡ giữa hai chủ thể. Ngược lại, tính bất đối xứng là sự không tương ứng hoặc không phù hợp ở các chiều cạnh này. Vai trò của hai tính chất này rất quan trọng trong việc duy trì và phát triển vốn xã hội, giúp cân bằng các mối quan hệ xã hội và phản ánh các chuẩn mực văn hóa đặc trưng của người Việt.

1.2. Tổng quan các nghiên cứu về tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ tại Việt Nam

Các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào việc khảo sát các giúp đỡ một chiều hoặc các loại hình giúp đỡ trong mạng lưới xã hội mà chưa phân tích sâu về tính đối xứng và bất đối xứng. Một số nghiên cứu nhân học đã mô tả các trao đổi giúp đỡ trong cộng đồng nông thôn nhưng chưa đo lường định lượng. Luận án của Cao Thị Hải Bắc (2016) là công trình đầu tiên đo lường và phân tích có hệ thống về tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ giữa bạn bè thân và trong gia đình người Việt.

II. Vấn đề thách thức trong đo lường tính đối xứng và bất đối xứng quan hệ giúp đỡ người Việt

Việc đo lường tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ gặp nhiều thách thức do tính đa dạng và phức tạp của các loại hình giúp đỡ, cũng như sự khác biệt trong các hoàn cảnh xã hội. Ngoài ra, các chuẩn mực văn hóa và các yếu tố cá nhân, gia đình, cộng đồng cũng ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng. Việc thiếu các công cụ đo lường chuẩn xác và sự kết hợp giữa phương pháp định lượng và định tính cũng là một hạn chế lớn trong các nghiên cứu trước đây.

2.1. Thách thức trong việc đo lường số lượng và tính chất loại hình giúp đỡ

Số lượng loại hình giúp đỡ rất đa dạng, bao gồm tiền bạc, tình cảm, sức lao động, thông tin... Việc đo lường chính xác số lượng và tính chất các loại hình này đòi hỏi công cụ khảo sát chi tiết và phù hợp. Ngoài ra, sự khác biệt về khả năng đáp trả giúp đỡ giữa các chủ thể cũng làm phức tạp thêm việc xác định tính đối xứng hay bất đối xứng.

2.2. Ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa và xã hội đến tính đối xứng và bất đối xứng

Đặc điểm văn hóa Việt Nam như chuẩn mực đạo đức, quan niệm về nghĩa vụ gia đình, và các quy ước xã hội ảnh hưởng sâu sắc đến cách thức giúp đỡ và kỳ vọng đáp trả. Ví dụ, trong gia đình, sự giúp đỡ thường mang tính bất đối xứng liên thế hệ, trong khi quan hệ bạn bè thường có xu hướng đối xứng hơn. Các yếu tố như giới tính, vùng miền, và mức độ thân thiết cũng tác động đến mức độ đối xứng và bất đối xứng.

III. Phương pháp và giải pháp đo lường tính đối xứng và bất đối xứng quan hệ giúp đỡ người Việt

Để giải quyết các thách thức trên, luận án đã áp dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa định lượng và định tính. Phương pháp định lượng sử dụng dữ liệu khảo sát 1430 hộ gia đình tại 5 tỉnh thành, đo lường mức độ đối xứng và bất đối xứng qua ba chiều cạnh: số lượng loại hình giúp đỡ, tính chất loại hình và hoàn cảnh giúp đỡ. Phương pháp định tính bao gồm phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp nhằm làm rõ các yếu tố ảnh hưởng và cơ chế hình thành các quan hệ giúp đỡ đối xứng và bất đối xứng.

3.1. Thiết kế nghiên cứu kết hợp định lượng và định tính

Nghiên cứu được thực hiện qua ba giai đoạn: quan sát và phỏng vấn bán cấu trúc ban đầu để hình thành giả thuyết; khảo sát định lượng với mẫu lớn để đo lường mức độ đối xứng và bất đối xứng; phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp để giải thích các kết quả định lượng và làm rõ các yếu tố ảnh hưởng.

3.2. Công cụ đo và thao tác hóa khái niệm tính đối xứng và bất đối xứng

Tính đối xứng được định nghĩa là sự tương ứng về số lượng, tính chất và hoàn cảnh giúp đỡ giữa hai chủ thể. Bất đối xứng là sự không tương ứng ở các chiều cạnh này. Công cụ đo tập trung vào mạng lưới quan hệ lõi gồm ba người bạn thân và các thành viên gia đình ruột thịt (bố mẹ và con cái). Các câu hỏi khảo sát được thiết kế để thu thập thông tin về các loại hình giúp đỡ và hoàn cảnh giúp đỡ cụ thể.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về tính đối xứng và bất đối xứng quan hệ giúp đỡ người Việt

Kết quả nghiên cứu cho thấy quan hệ giúp đỡ giữa bạn bè thân thường mang tính đối xứng rõ rệt, trong khi quan hệ giúp đỡ trong gia đình thường mang tính bất đối xứng liên thế hệ. Các loại hình giúp đỡ về tiền bạc và sức lao động thường có mức độ bất đối xứng cao hơn so với giúp đỡ về tinh thần hay thông tin. Ngoài ra, các yếu tố cá nhân như giới tính, độ tuổi, mức độ thân thiết, yếu tố gia đình như cấu trúc gia đình, và yếu tố cộng đồng như vùng miền đều ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ.

4.1. Đặc điểm đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ bạn bè thân và gia đình

Quan hệ giúp đỡ giữa bạn bè thân thể hiện sự đối xứng cao về số lượng và tính chất giúp đỡ, phản ánh sự gắn bó và kỳ vọng đáp trả tương xứng. Trong khi đó, quan hệ giúp đỡ trong gia đình, đặc biệt là giữa các thế hệ, thường có tính bất đối xứng rõ nét do các chuẩn mực văn hóa và trách nhiệm liên thế hệ.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ

Nghiên cứu xác định nhóm yếu tố cá nhân (giới tính, tuổi tác, mức độ thân thiết), nhóm yếu tố gia đình (cấu trúc gia đình, quan hệ liên thế hệ) và nhóm yếu tố cộng đồng/xã hội (vùng miền, chuẩn mực văn hóa) đều tác động đan xen đến mức độ đối xứng và bất đối xứng. Trong đó, yếu tố gia đình ảnh hưởng mạnh nhất đến quan hệ giúp đỡ trong gia đình, còn yếu tố cá nhân ảnh hưởng rõ nhất đến quan hệ giúp đỡ giữa bạn bè thân.

V. Kết luận và hướng phát triển tương lai về tính đối xứng và bất đối xứng quan hệ giúp đỡ người Việt

Nghiên cứu đã làm sáng tỏ vai trò quan trọng của tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ, góp phần làm rõ đặc trưng văn hóa và cấu trúc vốn xã hội của người Việt Nam. Việc kết hợp phương pháp định lượng và định tính giúp đo lường và giải thích sâu sắc các hiện tượng xã hội phức tạp này. Trong tương lai, cần mở rộng nghiên cứu ra các nhóm xã hội khác, các vùng miền khác nhau và phát triển các công cụ đo lường tinh vi hơn để hiểu rõ hơn về cơ chế vận hành của các quan hệ giúp đỡ trong bối cảnh xã hội Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng.

5.1. Tổng kết các phát hiện chính về tính đối xứng và bất đối xứng trong quan hệ giúp đỡ

Tính đối xứng và bất đối xứng không phải là hai trạng thái đối lập tuyệt đối mà là hai mặt bổ sung trong quan hệ giúp đỡ. Quan hệ bạn bè thân thường có xu hướng đối xứng, trong khi quan hệ gia đình có xu hướng bất đối xứng liên thế hệ. Các yếu tố cá nhân, gia đình và xã hội cùng tác động tạo nên sự đa dạng trong các quan hệ giúp đỡ.

5.2. Đề xuất hướng nghiên cứu và ứng dụng trong phát triển vốn xã hội Việt Nam

Cần tiếp tục nghiên cứu mở rộng về tính đối xứng và bất đối xứng trong các nhóm xã hội khác như cộng đồng dân tộc thiểu số, nhóm di cư, và trong các bối cảnh kinh tế xã hội khác nhau. Đồng thời, các nhà hoạch định chính sách có thể dựa vào kết quả nghiên cứu để xây dựng các chương trình phát triển vốn xã hội bền vững, phù hợp với đặc trưng văn hóa và xã hội Việt Nam.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 là phần tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đặc tính mạng lưới quan hệ xã hội, tính có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội và tính đối xứng và bất đối xứng như một trường hợp riêng của tính có đi có lại. Chương 2 sẽ đưa ra các cơ sở lý luận, thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Nội dung chính của luận án được trình bày trong chương 3 và chương 4. Chương 3 tìm hiểu đặc điểm về mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ.

Chương 4 tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng hơn cả đến tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này sẽ khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề theo ba chủ điểm chính. Thứ nhất là các nghiên cứu về mạng lưới quan hệ xã hội, thứ hai là các nghiên cứu về tính chất có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội và thứ ba là các nghiên cứu về tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội. Từ đó, chúng tôi sẽ nêu rõ những vấn đề luận án cần tập trung làm rõ.

Các nghiên cứu về mạng lƣới quan hệ xã hội Trong phần này, chúng tôi sẽ khảo sát lịch sử nghiên cứu liên quan đến các vấn đề như khái niệm, đặc tính của mạng lưới quan hệ xã hội, đặc trưng của quan hệ giúp đỡ trong quan hệ xã hội nói chung và trong gia đình Việt Nam nói riêng. Khái niệm mạng lƣới quan hệ xã hội Nhiều quan điểm cho rằng nhà xã hô ̣i ho ̣c ngườ i Đứ c Georg Simmel là người đầ u tiên đưa ra khái niê ̣m "tính xã hô ̣i" (sociability), tiền thân của khái niệm "mạng lưới xã hội". Theo ông, tính xã hô ̣i đươ ̣c hiể u như mô ̣t tâ ̣p hơ ̣p cá c mố i quan hê ̣ giữa cá nhân/nhóm vớ i nhữ ng cá nhân khá c/nhóm khá c [A. Tức là, Simmel xác định mạng lưới bao gồm các mối liên hệ của các cá nhân trong trạng thái vận động tương tác lẫn nhau [Lê Ngo ̣c Hùng, 2003, tr.

Sau đó, các nhà xã hô ̣i ho ̣c theo trườ ng phá i Chicago đã ứng du ̣ng khá i niê ̣m "tính liên kế t xã hô ̣i" của Simmel và o cá c chủ đề nghiên cứ u như quan hê ̣ lá ng giề ng, quan hê ̣ gia đì nh, quan hê ̣ bạn bè trong đời số ng đô thi ̣[Xem Lê Minh Tiế n, 2006, tr. Tuy nhiên, một số quan điểm lại cho rằng nhà nhân ho ̣c ngườ i Anh J. Barnes mới là người sáng ta ̣o ra khá i niê ̣m "mạng lưới xã hô ̣i" (social network). Trong bài viế t "Giai cấp và cộng đồng ở đảo Parish, NaUy" đươ ̣c công bố năm 1954, ông dù ng thuâ ̣t ngữ "mạng lưới xã hô ̣i" để chỉ loại hì nh tổ chứ c xã hô ̣i bao gồ m toà n bô ̣ cá c mố i quan hê ̣ phi chí nh thứ c giữ a cá c thà nh viên của đảo [Lê Minh Tiế n, 2006, tr.

Tuy nhiên, nhiề u nhà nghiên cứ u đề u đồ ng ý rằ ng nhà tâm lý học ngườ i Mỹ gố c Romania J.Moreno mới là người có công đầ u tiên phá t minh ra phương phá p phân tích mạng lưới xã hội. Ngay từ tác phẩ m "Ai sẽ sống sót?", ông đã đưa ra khái niệm "mạng lưới xã hội" là một lược đồ các quan hệ đan chéo lẫn nhau, trong đó mỗi cá nhân đều có 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một vị trí xác định trong lược đồ đó và liên kết với các cá nhân khác bởi những lý do khác nhau và theo những phương thức khác nhau [xem Lê Minh Tiế n, 2006, tr. Hiểu một cách chung nhấ t, mạng lưới xã hội là tâ ̣p hơ ̣p cá c quan hê ̣ xã hô ̣i giữa các chủ thể (actor). Các mố i quan hê ̣ nà y mang nhiề u nô ̣i dung khá c nhau như giú p đỡ về tinh thầ n hay vâ ̣t chấ t, trao đổ i thông tin v .[Xem Lê Minh Tiế n, 2006, tr.

Vậy mạng lưới xã hội và vốn xã hội có phải là một hay không? Về bản chất mạng lưới quan hệ xã hội, có nhiều quan điểm coi nó như một nơi chứa đựng, nguồn tạo lập vốn xã hội. Tiêu biểu cho quan điểm này là Nan Lin trong định nghĩa "Vố n xã hội là nguồ n vố n được tiế p cận thông qua các liên kế t xã hội của cá nhân." [Nan Lin, 1999, tr. Nan Lin đã khẳng định mạng lưới xã hội hay chính là các liên kết xã hội là nơi sản sinh ra vốn xã hội. Đồng quan điểm với Nan Lin, Pierre Bourdieu từng đinh ̣ nghiã vố n xã hô ̣i như “một tập hợp các nguồn lực hiện hữu hoặc tiềm tàng, gắn với việc sở hữu một mạng lưới bền vững của các mối quan hệ quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau ít nhiều được thể chế hóa” [Pierre Bourdieu, 1983, tr.

Mạng lưới xã hội mà Bourdieu nói đế n ở đây là tổ ng hòa các mố i quan hê ̣ xã hô ̣i của một cá nhân với đặc trưng là ít nhiều đã được thể chế hóa dựa trên sự quen biết hoă ̣c thừa nhâ ̣n lẫn nhau. Theo đó , từ mố i quan hê ̣ vố n đã đươ ̣c gắ n kế t chă ̣t chẽ và thừa nhâ ̣n từ lâu như quan hê ̣ gia đin ̀ h , họ hàng, bạn bè thân thiết đến những quan hệ chỉ là quen biết như quan hệ bạn bè thông thường và nhiều quan hệ xã giao khác đều có thể đan kết thành một mạng lưới dày đặc, đa da ̣ng và cũng khá phức ta ̣p. Cùng xem xét mạng lưới quan hệ xã hội ở góc độ cấu trúc như Bourdieu, Hoàng Bá Th xã cho rằ ng mho rằ ng Hoàng Bá Th xã hô ̣i ở góc đô ̣ cấ u trúc̉a mạng lưới quan hệ xã hội là nơi chứa đựng vốn xã hội .trưng là it́ nhiề u Vốn xã hội được sinh ra từ tập hợp các giao điểm này [Hoàng Bá Th đư, 2009, tr. Đồng quan điểm với Nan Lin còn nhiuan điểm vớkhác như Bourdieu (1986), Coleman (1988) v.

Bên cBourdieudòng quan điểm thứ hai với đại diện tiêu biểu là nhà xã hn điểm thứ hai với đại diện tiêu1995) đã cho rằng ".rằng điểm thứ hai với đại diện tiêu biểu là nàyác mố i quan hê ̣ xã hội của một cá [Putnam, 1995, tr. Putnam kh5, tr. 66mạng lưới xã hội chg lưới xã hộitr. nàyác mố i quan hê ̣ xã hô ̣i của mô ̣t cá nhân với đă ̣c trưng là it́ nhiề u đã đươ ̣c thể chế hóa dựa trên sự quen biế t hoă ̣c thừa nhâ ̣n lẫn nhau.

The 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, xét về bản chất, mạng lưới xã hội và vốn xã hội không phải là hai phạm trù biệt lập mà là một phạm trù thống nhất. Mạng lưới xã hội và vốn xã hội nằm trong nhau và được tạo nên theo một chu trình khép kín gồm hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là các quan hệ xã hội sinh ra các nguồn vốn xã hội, đến lượt mình ở giai đoạn thứ hai, các nguồn vốn xã hội trong quá trình tương tác với nhau lại tạo nên các mạng lưới quan hệ xã hội mới. Như vậy, thực chất hai dòng quan điểm nêu trên chỉ là sự nhấn mạnh hơn đến giai đoạn thứ nhất hay giai đoạn thứ hai mà thôi. Như vậy, mạng lưới xã hội là vốn xã hội.

Tuy nhiên, trong một mạng lưới xã hội rộng lớn, không phải quan hệ xã hội nào cũng được coi là nguồn vốn xã hội hữu ích. Vấn đề này đã từng được chúng tôi bàn đến trong các nghiên cứu trước. "Mạng lưới quan hệ xã hội" hiểu theo nghĩa rộng là tổng hòa tất cả các đối tác mà cá nhân đã xây dựng và duy trì các quan hệ một cách có chủ đích. Nhưng xét theo nghĩa hẹp, mạng lưới quan hệ xã hội có thể chỉ là số người ba ̣n mà cá nhân có thể tìm đến như nguồn hỗ trợ đầu tiên khi họ gặp những khó khăn trong cuộc sống cần có sự trợ giúp.

Như vậy, số lượng những người được xem như là bạn thân cùng với các thành viên trong gia đình ruột thịt luôn sẵn sàng sẻ chia giúp đỡ chính là mạng lưới quan hệ xã hội lõi của mỗi chủ thể [Nguyễn Quý Thanh và Cao Thị Hải Bắc, 2015, tr. Do vậy, luận án này sẽ đo tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong mạng lõi của người Việt Nam. Các đặc tính của mạng lƣới quan hệ xã hội Để có được thông tin về một mạng lưới quan hệ xã hội thì cần nắm được các đặc tính về mạng lưới đó. Các đặc tính thường được nhắc đến của mạng lưới xã hội bao gồm qui mô, mật độ, tần suất tiếp xúc, cơ chế hình thành, có đi có lại v.

Về đặc tính qui mô mạng lưới xã hội, chúng tôi đã từng khảo sát ba dòng quan điểm chính. Thứ nhất, qui mô mạng lưới quan hệ xã hội của một cá nhân là tổng số lượng các chủ thể mà cá nhân quen biết. Quan điểm này giới hạn qui mô mạng lưới xã hội của một cá nhân trong các liên kết mạnh (strong ties). Tiêu biểu cho dòng quan điểm này là nghiên cứu của Pool, Kochen (1978).

Khác với dòng quan điểm cổ điển là quan điểm cho rẳng qui mô mạng lưới quan hệ xã hội là mạng lưới của cả những người quen biết và người lạ. Tiêu biểu cho dòng quan điểm này là Chang, Fu (2003). Dòng quan điểm thứ ba có thể tìm thấy trong nghiên cứu của Lee Jae Yeol (2000) về "Mạng lưới quan hệ xã hội của người Hàn Quốc". Trong nghiên cứu của Lee Jae Yeol, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qui mô mạng lưới quan hệ xã hội được tính là tổng số người được liệt kê như là nguồn giúp đỡ đầu tiên trong cuộc sống và những người được tin cậy để chia sẻ và bàn luận những việc quan trọng [Nguyễn Quý Thanh, Cao Thi ̣Hải Bắ c, 2015, tr.

Ở Việt Nam có lẽ cũng chưa có nghiên cứu nào đo lường qui mô ma ̣ng lưới quan hê ̣ xã hô ̣i .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ