Chương 1 là phần tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đặc tính mạng lưới quan hệ xã hội, tính có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội và tính đối xứng và bất đối xứng như một trường hợp riêng của tính có đi có lại. Chương 2 sẽ đưa ra các cơ sở lý luận, thiết kế nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Nội dung chính của luận án được trình bày trong chương 3 và chương 4. Chương 3 tìm hiểu đặc điểm về mức độ đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ.
Chương 4 tìm hiểu về các yếu tố ảnh hưởng hơn cả đến tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương này sẽ khảo sát lịch sử nghiên cứu vấn đề theo ba chủ điểm chính. Thứ nhất là các nghiên cứu về mạng lưới quan hệ xã hội, thứ hai là các nghiên cứu về tính chất có đi có lại như một thành tố của vốn xã hội và thứ ba là các nghiên cứu về tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong vốn xã hội. Từ đó, chúng tôi sẽ nêu rõ những vấn đề luận án cần tập trung làm rõ.
Các nghiên cứu về mạng lƣới quan hệ xã hội Trong phần này, chúng tôi sẽ khảo sát lịch sử nghiên cứu liên quan đến các vấn đề như khái niệm, đặc tính của mạng lưới quan hệ xã hội, đặc trưng của quan hệ giúp đỡ trong quan hệ xã hội nói chung và trong gia đình Việt Nam nói riêng. Khái niệm mạng lƣới quan hệ xã hội Nhiều quan điểm cho rằng nhà xã hô ̣i ho ̣c ngườ i Đứ c Georg Simmel là người đầ u tiên đưa ra khái niê ̣m "tính xã hô ̣i" (sociability), tiền thân của khái niệm "mạng lưới xã hội". Theo ông, tính xã hô ̣i đươ ̣c hiể u như mô ̣t tâ ̣p hơ ̣p cá c mố i quan hê ̣ giữa cá nhân/nhóm vớ i nhữ ng cá nhân khá c/nhóm khá c [A. Tức là, Simmel xác định mạng lưới bao gồm các mối liên hệ của các cá nhân trong trạng thái vận động tương tác lẫn nhau [Lê Ngo ̣c Hùng, 2003, tr.
Sau đó, các nhà xã hô ̣i ho ̣c theo trườ ng phá i Chicago đã ứng du ̣ng khá i niê ̣m "tính liên kế t xã hô ̣i" của Simmel và o cá c chủ đề nghiên cứ u như quan hê ̣ lá ng giề ng, quan hê ̣ gia đì nh, quan hê ̣ bạn bè trong đời số ng đô thi ̣[Xem Lê Minh Tiế n, 2006, tr. Tuy nhiên, một số quan điểm lại cho rằng nhà nhân ho ̣c ngườ i Anh J. Barnes mới là người sáng ta ̣o ra khá i niê ̣m "mạng lưới xã hô ̣i" (social network). Trong bài viế t "Giai cấp và cộng đồng ở đảo Parish, NaUy" đươ ̣c công bố năm 1954, ông dù ng thuâ ̣t ngữ "mạng lưới xã hô ̣i" để chỉ loại hì nh tổ chứ c xã hô ̣i bao gồ m toà n bô ̣ cá c mố i quan hê ̣ phi chí nh thứ c giữ a cá c thà nh viên của đảo [Lê Minh Tiế n, 2006, tr.
Tuy nhiên, nhiề u nhà nghiên cứ u đề u đồ ng ý rằ ng nhà tâm lý học ngườ i Mỹ gố c Romania J.Moreno mới là người có công đầ u tiên phá t minh ra phương phá p phân tích mạng lưới xã hội. Ngay từ tác phẩ m "Ai sẽ sống sót?", ông đã đưa ra khái niệm "mạng lưới xã hội" là một lược đồ các quan hệ đan chéo lẫn nhau, trong đó mỗi cá nhân đều có 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một vị trí xác định trong lược đồ đó và liên kết với các cá nhân khác bởi những lý do khác nhau và theo những phương thức khác nhau [xem Lê Minh Tiế n, 2006, tr. Hiểu một cách chung nhấ t, mạng lưới xã hội là tâ ̣p hơ ̣p cá c quan hê ̣ xã hô ̣i giữa các chủ thể (actor). Các mố i quan hê ̣ nà y mang nhiề u nô ̣i dung khá c nhau như giú p đỡ về tinh thầ n hay vâ ̣t chấ t, trao đổ i thông tin v .[Xem Lê Minh Tiế n, 2006, tr.
Vậy mạng lưới xã hội và vốn xã hội có phải là một hay không? Về bản chất mạng lưới quan hệ xã hội, có nhiều quan điểm coi nó như một nơi chứa đựng, nguồn tạo lập vốn xã hội. Tiêu biểu cho quan điểm này là Nan Lin trong định nghĩa "Vố n xã hội là nguồ n vố n được tiế p cận thông qua các liên kế t xã hội của cá nhân." [Nan Lin, 1999, tr. Nan Lin đã khẳng định mạng lưới xã hội hay chính là các liên kết xã hội là nơi sản sinh ra vốn xã hội. Đồng quan điểm với Nan Lin, Pierre Bourdieu từng đinh ̣ nghiã vố n xã hô ̣i như “một tập hợp các nguồn lực hiện hữu hoặc tiềm tàng, gắn với việc sở hữu một mạng lưới bền vững của các mối quan hệ quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau ít nhiều được thể chế hóa” [Pierre Bourdieu, 1983, tr.
Mạng lưới xã hội mà Bourdieu nói đế n ở đây là tổ ng hòa các mố i quan hê ̣ xã hô ̣i của một cá nhân với đặc trưng là ít nhiều đã được thể chế hóa dựa trên sự quen biết hoă ̣c thừa nhâ ̣n lẫn nhau. Theo đó , từ mố i quan hê ̣ vố n đã đươ ̣c gắ n kế t chă ̣t chẽ và thừa nhâ ̣n từ lâu như quan hê ̣ gia đin ̀ h , họ hàng, bạn bè thân thiết đến những quan hệ chỉ là quen biết như quan hệ bạn bè thông thường và nhiều quan hệ xã giao khác đều có thể đan kết thành một mạng lưới dày đặc, đa da ̣ng và cũng khá phức ta ̣p. Cùng xem xét mạng lưới quan hệ xã hội ở góc độ cấu trúc như Bourdieu, Hoàng Bá Th xã cho rằ ng mho rằ ng Hoàng Bá Th xã hô ̣i ở góc đô ̣ cấ u trúc̉a mạng lưới quan hệ xã hội là nơi chứa đựng vốn xã hội .trưng là it́ nhiề u Vốn xã hội được sinh ra từ tập hợp các giao điểm này [Hoàng Bá Th đư, 2009, tr. Đồng quan điểm với Nan Lin còn nhiuan điểm vớkhác như Bourdieu (1986), Coleman (1988) v.
Bên cBourdieudòng quan điểm thứ hai với đại diện tiêu biểu là nhà xã hn điểm thứ hai với đại diện tiêu1995) đã cho rằng ".rằng điểm thứ hai với đại diện tiêu biểu là nàyác mố i quan hê ̣ xã hội của một cá [Putnam, 1995, tr. Putnam kh5, tr. 66mạng lưới xã hội chg lưới xã hộitr. nàyác mố i quan hê ̣ xã hô ̣i của mô ̣t cá nhân với đă ̣c trưng là it́ nhiề u đã đươ ̣c thể chế hóa dựa trên sự quen biế t hoă ̣c thừa nhâ ̣n lẫn nhau.
The 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, xét về bản chất, mạng lưới xã hội và vốn xã hội không phải là hai phạm trù biệt lập mà là một phạm trù thống nhất. Mạng lưới xã hội và vốn xã hội nằm trong nhau và được tạo nên theo một chu trình khép kín gồm hai giai đoạn: giai đoạn thứ nhất là các quan hệ xã hội sinh ra các nguồn vốn xã hội, đến lượt mình ở giai đoạn thứ hai, các nguồn vốn xã hội trong quá trình tương tác với nhau lại tạo nên các mạng lưới quan hệ xã hội mới. Như vậy, thực chất hai dòng quan điểm nêu trên chỉ là sự nhấn mạnh hơn đến giai đoạn thứ nhất hay giai đoạn thứ hai mà thôi. Như vậy, mạng lưới xã hội là vốn xã hội.
Tuy nhiên, trong một mạng lưới xã hội rộng lớn, không phải quan hệ xã hội nào cũng được coi là nguồn vốn xã hội hữu ích. Vấn đề này đã từng được chúng tôi bàn đến trong các nghiên cứu trước. "Mạng lưới quan hệ xã hội" hiểu theo nghĩa rộng là tổng hòa tất cả các đối tác mà cá nhân đã xây dựng và duy trì các quan hệ một cách có chủ đích. Nhưng xét theo nghĩa hẹp, mạng lưới quan hệ xã hội có thể chỉ là số người ba ̣n mà cá nhân có thể tìm đến như nguồn hỗ trợ đầu tiên khi họ gặp những khó khăn trong cuộc sống cần có sự trợ giúp.
Như vậy, số lượng những người được xem như là bạn thân cùng với các thành viên trong gia đình ruột thịt luôn sẵn sàng sẻ chia giúp đỡ chính là mạng lưới quan hệ xã hội lõi của mỗi chủ thể [Nguyễn Quý Thanh và Cao Thị Hải Bắc, 2015, tr. Do vậy, luận án này sẽ đo tính đối xứng và bất đối xứng của quan hệ giúp đỡ trong mạng lõi của người Việt Nam. Các đặc tính của mạng lƣới quan hệ xã hội Để có được thông tin về một mạng lưới quan hệ xã hội thì cần nắm được các đặc tính về mạng lưới đó. Các đặc tính thường được nhắc đến của mạng lưới xã hội bao gồm qui mô, mật độ, tần suất tiếp xúc, cơ chế hình thành, có đi có lại v.
Về đặc tính qui mô mạng lưới xã hội, chúng tôi đã từng khảo sát ba dòng quan điểm chính. Thứ nhất, qui mô mạng lưới quan hệ xã hội của một cá nhân là tổng số lượng các chủ thể mà cá nhân quen biết. Quan điểm này giới hạn qui mô mạng lưới xã hội của một cá nhân trong các liên kết mạnh (strong ties). Tiêu biểu cho dòng quan điểm này là nghiên cứu của Pool, Kochen (1978).
Khác với dòng quan điểm cổ điển là quan điểm cho rẳng qui mô mạng lưới quan hệ xã hội là mạng lưới của cả những người quen biết và người lạ. Tiêu biểu cho dòng quan điểm này là Chang, Fu (2003). Dòng quan điểm thứ ba có thể tìm thấy trong nghiên cứu của Lee Jae Yeol (2000) về "Mạng lưới quan hệ xã hội của người Hàn Quốc". Trong nghiên cứu của Lee Jae Yeol, 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qui mô mạng lưới quan hệ xã hội được tính là tổng số người được liệt kê như là nguồn giúp đỡ đầu tiên trong cuộc sống và những người được tin cậy để chia sẻ và bàn luận những việc quan trọng [Nguyễn Quý Thanh, Cao Thi ̣Hải Bắ c, 2015, tr.
Ở Việt Nam có lẽ cũng chưa có nghiên cứu nào đo lường qui mô ma ̣ng lưới quan hê ̣ xã hô ̣i .