Luận án: Tính chính luận trong chương trình đàm thoại truyền hình Việt Nam hiện nay (Nguyễn Nga Huyền)

Phân tích sâu sắc tính chính luận trong các chương trình đàm thoại truyền hình Việt Nam hiện nay. Đánh giá vai trò, ảnh hưởng và những thách thức đối với nội

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

339
0
0

Phí lưu trữ

75 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tính chính luận trên truyền hình Việt Nam

Tính chính luận là khái niệm cốt lõi trong nền báo chí cách mạng Việt Nam. Thuật ngữ này chỉ nhóm tác phẩm báo chí có nội dung chính trị-xã hội sâu sắc, mang tính định hướng tư tưởng và dư luận xã hội. Trên truyền hình, tính chính luận được thể hiện rõ nét qua các chương trình đàm thoại chính luận. Đây là loại hình chương trình kết hợp giữa thông tin thời sự và bình luận chuyên sâu. Các chương trình như Đối thoại chính sách, Sự kiện và Bình luận trên VTV1 là minh chứng điển hình. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Nga Huyền (2021) đã khảo sát chuyên sâu vấn đề này. Nghiên cứu tập trung vào ba chương trình tiêu biểu trên sóng VTV1 và HTV9. Giai đoạn khảo sát kéo dài từ năm 2014 đến 2015. Kết quả nghiên cứu cho thấy tính chính luận có vai trò quyết định chất lượng nội dung truyền hình. Đây là đóng góp quan trọng cho lý luận báo chí truyền hình Việt Nam.

1.1. Khái niệm tính chính luận trong báo chí

Tính chính luận trong báo chí được hiểu là thuộc tính thể hiện lập trường tư tưởng, quan điểm chính trị của tác phẩm báo chí. Khái niệm này gắn liền với truyền thống báo chí cách mạng Việt Nam. PGS. Trần Thế Phiệt trong 'Tác phẩm báo chí' (1995) đã phân tích rõ nhóm tác phẩm chính luận báo chí. Nhóm này bao gồm xã luận, bình luận, chuyên luận với nội dung phản ánh các vấn đề chính trị-xã hội trọng đại. Tính chính luận không chỉ bó hẹp trong lĩnh vực chính trị mà mở rộng đến các mối quan tâm của xã hội.

1.2. Chương trình đàm thoại chính luận trên truyền hình

Chương trình đàm thoại chính luận là loại hình chương trình truyền hình kết hợp phỏng vấn, thảo luận về các vấn đề thời sự. Các chương trình này có đặc điểm chung là đội ngũ khách mời chuyên gia, nhà quản lý tham gia phân tích chuyên sâu. Truyền hình với ưu thế hình ảnh động và âm thanh tạo sức thuyết phục mạnh mẽ. Tại Việt Nam, các chương trình đàm thoại chính luận đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng dư luận và tuyên truyền đường lối, chính sách.

II. Phân tích thực trạng tính chính luận trong chương trình đàm thoại

Nghiên cứu khảo sát ba chương trình tiêu biểu trên sóng truyền hình Việt Nam giai đoạn 2014-2015. Chương trình Đối thoại chính sách (VTV1) tập trung vào các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Sự kiện và Bình luận (VTV1) phân tích sâu các vấn đề thời sự nổi bật. Chương trình 45 phút (HTV9) đề cập đến các vấn đề đời sống xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả phân tích cho thấy mỗi chương trình có cách tiếp cận tính chính luận khác nhau. Đối thoại chính sách thiên về phân tích chính sách công, mang tính lý luận cao. Sự kiện và Bình luận chú trọng góc nhìn đa chiều từ nhiều chuyên gia. 45 phút có phần nhẹ hơn về tính chính trị nhưng vẫn đảm bảo chiều sâu xã hội. Tuy nhiên, cả ba chương trình đều gặp một số hạn chế nhất định. Nội dung đôi khi chưa bám sát thực tiễn đời sống. Phương thức thể hiện chưa thực sự hấp dẫn đối với khán giả trẻ. Đây là thách thức lớn đối với các nhà sản xuất chương trình.

2.1. Điểm mạnh của tính chính luận trong các chương trình

Các chương trình đàm thoại chính luận trên truyền hình Việt Nam có nhiều điểm mạnh nổi bật. Đội ngũ khách mời là các chuyên gia, nhà quản lý đầu ngành đảm bảo tính chuyên môn cao. Nội dung chương trình bám sát các sự kiện chính trị-xã hội trọng đại. Phương thức thể hiện kết hợp hình ảnh, âm thanh tạo sức truyền tải mạnh mẽ. Các chương trình góp phần định hướng tư tưởng và nâng cao nhận thức công chúng về các vấn đề quốc gia.

2.2. Hạn chế và thách thức đặt ra

Bên cạnh những điểm mạnh, các chương trình còn tồn tại một số hạn chế. Nội dung đôi khi nặng về lý luận, thiếu tính thực tiễn đời sống. Hình thức thể hiện chưa đa dạng, dễ gây nhàm chán cho khán giả. Tương tác giữa khách mời và người dẫn chương trình chưa thực sự sinh động. Đối tượng khán giả tiếp cận còn hạn chế, chủ yếu là người quan tâm đến chính trị-xã hội. Đây là thách thức cần giải quyết để nâng cao hiệu quả tuyên truyền.

III. Giải pháp nâng cao tính chính luận trên truyền hình Việt Nam

Từ kết quả phân tích thực trạng, luận án đề xuất nhiều giải pháp nâng cao tính chính luận. Trước hết, cần đổi mới nội dung chương trình theo hướng贴近 thực tiễn đời sống. Nội dung chính luận phải gắn liền với lợi ích thiết thân của người dân. Thứ hai, cần đa dạng hóa hình thức thể hiện trên sóng truyền hình. Sử dụng công nghệ truyền thông hiện đại để tăng sức hấp dẫn. Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ khách mời và người dẫn chương trình. Khách mời cần có kiến thức chuyên sâu và kỹ năng giao tiếp tốt. Thứ tư, tăng cường tương tác với khán giả qua các kênh truyền thông đa phương tiện. Cuối cùng, cần xây dựng cơ chế đánh giá hiệu quả chương trình một cách khoa học. Các giải pháp này cần được triển khai đồng bộ và có lộ trình cụ thể. Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng tuyên truyền chính trị trên truyền hình.

3.1. Đổi mới nội dung và hình thức chương trình

Đổi mới nội dung chương trình là giải pháp then chốt để nâng cao tính chính luận. Nội dung cần bám sát thực tiễn, phản ánh kịp thời các vấn đề thời sự. Hình thức thể hiện cần đa dạng hóa với đồ họa, infographic, video minh họa. Áp dụng công nghệ truyền thông mới như tương tác trực tuyến, mạng xã hội. Sự kết hợp giữa nội dung sâu sắc và hình thức hấp dẫn sẽ thu hút khán giả.

3.2. Nâng cao chất lượng nhân sự sản xuất chương trình

Đội ngũ sản xuất chương trình đóng vai trò quyết định chất lượng nội dung. Cần đào tạo chuyên sâu về kiến thức chính trị-xã hội cho nhà báo, biên tập viên. Khách mời tham gia chương trình phải là chuyên gia có uy tín và kỹ năng truyền đạt tốt. Người dẫn chương trình cần có kiến thức nền tảng vững chắc về chính trị học, báo chí. Đầu tư nâng cao năng lực nhân sự là yếu tố chiến lược lâu dài.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu về tính chính luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Nga Huyền đã hoàn thành mục tiêu nghiên cứu đề ra. Nghiên cứu đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tính chính luận trong báo chí truyền hình. Kết quả khảo sát ba chương trình đàm thoại chính luận giai đoạn 2014-2015 cho bức tranh toàn diện. Tính chính luận được xác định là thuộc tính cốt lõi của chương trình đàm thoại chính luận. Nghiên cứu cũng chỉ rõ thực trạng và đề xuất giải pháp cụ thể. Những đóng góp của luận án có giá trị cả về mặt lý luận và thực tiễn. Về lý luận, luận án bổ sung hệ thống tiêu chí đánh giá tính chính luận trên truyền hình. Về thực tiễn, các giải pháp đề xuất có tính khả thi cao. Kết quả nghiên cứu có thể áp dụng cho việc sản xuất và đánh giá chương trình truyền hình. Đây là tài liệu tham khảo quý giá cho sinh viên báo chí, nhà nghiên cứu. Đồng thời, luận án mở ra hướng nghiên cứu mới về báo chí chính luận trong thời đại số.

4.1. Đóng góp lý luận của luận án tiến sĩ

Luận án đã đóng góp quan trọng vào hệ thống lý luận báo chí Việt Nam. Nghiên cứu xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá tính chính luận trong chương trình đàm thoại truyền hình. Các tiêu chí này được xây dựng trên cơ sở tổng hợp lý luận và thực tiễn. Hệ thống tiêu chí bao gồm: nội dung chính trị-xã hội, tính định hướng tư tưởng, chiều sâu phân tích, tính thời sự. Đây là công cụ hữu ích cho việc đánh giá chất lượng chương trình truyền hình.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và hướng nghiên cứu tiếp theo

Kết quả nghiên cứu có nhiều ứng dụng thực tiễn trong sản xuất chương trình truyền hình. Các đài truyền hình có thể áp dụng hệ thống tiêu chí để đánh giá và nâng cao chất lượng. Giải pháp đề xuất có thể triển khai trong quá trình sản xuất chương trình đàm thoại chính luận. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát sang giai đoạn 2016-2020. Nghiên cứu so sánh tính chính luận trên các nền tảng truyền thông mới cũng là hướng tiềm năng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Tính chính luận trong chương trình đàm thoại truyền hình ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu, Tổng quan, Kết luận & Kiến nghị, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án gồm 3 chương, 7 tiết. 14 TỔNG QUAN Qua tìm hiểu, tham khảo nhiều nguồn tài liệu, tác giả nhận thấy đã có những công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài báo khoa học,. đề cập đến một phần, một vài điểm, hoặc có liên quan đến công trình của mình. Trong quá trình nghiên cứu, tác giả hệ thống hoá những tài liệu này thành hai nhóm vấn đề lớn liên quan đến đề tài nghiên cứu: Một là tài liệu liên quan đến chính luận báo chí và tính chính luận, hai là tài liệu liên quan đến chương trình đàm thoại truyền hình.

Hai nhóm này bao gồm cả các tài liệu bằng tiếng Việt và tài liệu tiếng nước ngoài. Đặc biệt, trong các tài liệu bằng tiếng Anh, có một thuật ngữ tiếng Anh quan trọng là “talk show”. Tác giả luận án xin được giữ nguyên cách gọi này và chú giải sang tiếng Việt như sau: một chương trình phát thanh hoặc truyền hình có định dạng chính là cuộc nói chuyện, trao đổi giữa hai người trở lên (gồm người dẫn chương trình và khách mời) về một chủ đề. Những công trình tiếng nước ngoài dưới đây hầu hết được nghiên cứu và xuất bản tại Mỹ, nơi sáng tạo ra dạng chương trình talk show truyền hình, vốn là nguồn gốc của những chương trình đàm thoại, đàm luận, tọa đàm hiện nay của truyền hình Việt Nam.

Do đó, đây là nguồn tham khảo, đối chiếu không thể thiếu để nghiên cứu sinh hoàn thành nghiên cứu này. Hai nhóm vấn đề lớn liên quan đến đề tài nghiên cứu được trình bày cụ thể theo phạm vi từ các tài liệu tiếng nước ngoài, đến các tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt, và các tài liệu tiếng Việt. Các tài liệu được trình bày theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại như sau: 1. Tài liệu liên quan đến chính luận báo chí và tính chính luận 1.

Tài liệu tiếng nước ngoài liên quan đến chính luận báo chí và tính chính luận Trong quá trình khảo sát các tài liệu quốc tế để tìm hiểu sự tương đồng và khác biệt về mặt lý luận, nghiên cứu sinh nhận thấy báo chí phương Tây nói 15 chung phân biệt báo chí theo các lĩnh vực cụ thể: chính trị, kinh tế, xã hội, thể thao, giải trí v. Điểm này khá tương đồng với cách gọi “báo chí chuyên biệt” như ở Việt Nam. Nếu ở nước ta khái niệm “chính luận báo chí” hoặc “báo chí chính luận” rất phổ biến, thì ở các nền báo chí Tây phương, họ sử dụng khái niệm mà nghiên cứu sinh cho rằng là tương đương gần nhất bằng tiếng Anh là “political journalism” và “public affairs journalism” (tạm dịch lần lượt là “báo chí về chính trị” và “báo chí về các vấn đề công chúng quan tâm”). Chính vì vậy, trong quá trình nghiên cứu các tài liệu tiếng nước ngoài, nghiên cứu sinh chỉ tập trung vào những tài liệu liên quan đến hai khái niệm này.

Tài liệu tiếng nước ngoài liên quan đến báo chí chính trị Đầu tiên, về khái niệm “báo chí chính trị”, các tài liệu mà nghiên cứu sinh có cơ hội tiếp cận đa số quan niệm rằng đây là một thành phần trung tâm của khái niệm “truyền thông chính trị”. Năm 2002, ấn bản đầu tiên của cuốn sách “Political Journalism: New Challenges, New Practices” (tạm dịch là Báo chí về Chính trị: Thách thức mới, Thực tiễn mới) [84] với dung lượng 249 trang đã được xuất bản tại nhà xuất bản Routledge của nước Anh. Đây là tác phẩm của các nhà nghiên cứu, giảng viên cao cấp về chính trị ở các trường đại học Châu Âu là Raymond Kuhn và Erik Neveu. Sau này sách được tái bản nhiều lần nữa.

Nội dung của cuốn sách này đáng chú ý ở chỗ trong phân tích về báo chí chính trị phương Tây, Erick Neveu đã phân tích ba đặc tính của báo chí chính trị [84, tr. Thứ nhất, báo chí chính trị luôn được xếp ở vị trí ưu tiên so với các nội dung khác. Thứ hai, báo chí chính trị phải đối mặt với nhiều vấn đề hơn trong việc chuyển tải và diễn đạt tin tức (và ông phân tích thêm rằng báo chí viết về khoa học và kinh tế cũng sẽ đối mặt với vấn đề tương tự). Thứ ba, do mức độ tương tác giữa các nhà báo viết về chính trị và các chính trị gia là khá cao (khi các nhà báo chuyên trách phải đi theo tham dự các phiên họp, hoạt 16 động của các chính trị gia) nên giữa họ nảy sinh một mối quan hệ mật thiết mà nhà báo viết ở mảng khác khó có được.

Từ những đặc tính này của báo chí chính trị, các tác giả cuốn sách cũng đặt ra những thách thức đối với các nhà báo viết về chính trị, đó là: tính tự chủ của các nhà báo khi phải đối mặt với các chuyên gia truyền thông của giới chính trị; tính đa chiều toàn diện của thông tin khi một mặt phải giám sát phản biện chính phủ và giới chính trị gia, một mặt phải hiểu và biểu đạt đúng những vấn đề của các nhóm xã hội đối với giới chính trị… [84, tr. Những nội dung trên đã khái quát hoá những vấn đề mà báo chí gặp phải khi đưa tin chính trị ở phương Tây, đồng thời cũng phản ánh những yếu tố mang tính kỹ năng, nghiệp vụ của nhà báo viết về chính trị. Điều này có điểm gần với mảng báo chí chính luận ở Việt Nam, khi mức độ quan trọng của thông tin chính luận luôn được coi trọng, và các nhà báo được phân công theo dõi mảng này hiếm khi là những người mới vào nghề hoặc ít kinh nghiệm. Khẳng định thêm cho nội dung của báo chí chính trị là định nghĩa về nó trong cuốn “Political journalism in transition, Western Europe in a Comparative Perspective” (tạm dịch là: Sự dịch chuyển của báo chí chính trị, Tây Âu trong quan điểm so sánh) do hai nhà nghiên cứu Raymond Kuhn và Rasmus Kleis Nielsen biên tập, được xuất bản năm 2014 tại nhà xuất bản I.

Ở phần đầu của cuốn sách, báo chí chính trị cũng được nhắc đến như: một thể chế chính thức, độc lập… tham gia vào việc phản biện những nhà cầm quyền, thúc đẩy các nhà hoạt động chính trị, các vấn đề chính trị, quan điểm chính trị cụ thể, thông tin cho công chúng những tin tức thời sự và vận động công dân có những hành động chính trị. Các tác giả cũng đi sâu làm rõ một loạt các câu hỏi đơn giản nhưng quan trọng về báo chí chính trị như: Nó hoạt động như thế nào tại các quốc gia được 17 lựa chọn khảo sát? Sự tương đồng và sự khác biệt trong hoạt động của nó là gì? Nó thay đổi như thế nào?. Điều này cho thấy tính đặc thù trong hoạt động của báo chí chính trị ở mỗi quốc gia và từ đó dẫn đến cách tác nghiệp không hoàn toàn giống nhau của các nhà báo theo dõi chuyên trách nội dung này. Tại Việt Nam, trước đây khái niệm “báo chí chính luận” có cách hiểu gần như tương đồng với “báo chí chính trị” khi nội dung chủ yếu luận bàn về các vấn đề, sự kiện chính trị - xã hội.

Tuy nhiên, giờ đây dường như cách hiểu và cách làm các tác phẩm báo chí chính luận không còn như vậy. Trước kia, nói đến chính luận người ta thường chỉ nói đến các vấn đề thuộc chính trị xã hội. Ngày nay, cuộc sống biến động hằng ngày và luôn diễn ra vô số sự kiện không chỉ chính trị xã hội mà cả các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, thể thao. Thậm chí, có những sự kiện, sự việc tưởng chừng dễ nhận thức nhưng khi tác động đến nhiều người thì nảy sinh những cách nhìn nhận khác nhau, vì vậy cần có sự tham gia của tác phẩm chính luận để định hướng dư luận đến nhận thức đúng đắn nhất.23-24] Việc phân tích nội dung này sẽ được nghiên cứu sinh triển khai ở phần sau của luận án.

Tiếp theo là cuốn sách của tác giả Stephen Cushion mang tên “News and Politics: The rise of live and interpretive journalism” (tạm dịch: Tin tức và Chính trị: Sự nổi lên của báo chí trực tiếp và diễn giải), xuất bản năm 2015 bởi nhà xuất bản Routledge [87], cũng là một nghiên cứu đáng chú ý. Cuốn sách này đưa ra những phân tích phê bình các bản tin truyền hình, nguồn thông tin chính cho hầu hết công chúng, và hỏi xem liệu tốc độ và sự nhanh chóng của nền văn hoá tin tức 24 giờ có ảnh hưởng đến định dạng và phong cách của các bản tin đó theo thời gian không. Stephen Cushion cũng theo dõi một cách rõ ràng sự chuyển đổi từ việc biên tập tin tức sang đưa tin trực tiếp, đồng thời cho rằng sự gia tăng của tin tức trực tiếp, hai chiều có thể làm 18 tăng sự hiểu biết của người xem về các vấn đề chung của cộng đồng, từ đó khiến các nhà báo có những hành động như: kiểm tra hoạt động của các chính trị gia hàng đầu, giải thích thông tin đến từ nhiều nguồn cạnh tranh nhau, hay giải thích bối cảnh rộng hơn của những câu chuyện hàng ngày… nhằm thoả mãn nhu cầu của công chúng. Những nội dung mà nghiên cứu sinh cho rằng mang tính tham khảo ở cuốn sách này chính là yếu tố “báo chí diễn giải” - một nội dung mà tác giả Mitchell Stephens cũng đã sử dụng để đặt làm trọng tâm cho cuốn sách dịch từ tiếng Anh “Hơn cả tin tức: Tương lai của báo chí” (tên nguyên bản tiếng Anh: Beyond News: The future of journalism) được nhà xuất bản Trẻ phát hành năm 2015 [45].

Báo chí diễn giải giờ đây đóng vai trò ngày càng quan trọng và là thế mạnh cạnh tranh của các cơ quan báo chí. Trong quan điểm này, việc đưa tin chỉ là bước đầu. Thao tác quan trọng và mang giá trị hơn đối với công chúng chính là “diễn giải tin tức”. Những bài báo có thông tin diễn giải đầy đủ, rõ ràng, khách quan hơn sẽ được đón nhận nhiều hơn từ công chúng và ngược lại.

Chính vì thế, báo chí chính trị cũng như báo chí chính luận phải nắm được xu thế này và biến nó thành thế mạnh trong bối cảnh hiện nay. Các tác phẩm chính luận hiện nay bên cạnh việc nêu lên quan điểm, cũng cần phải đa chiều, để đảm bảo tính khách quan, diễn giải của thông tin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ