Luận văn Thạc sĩ: Quản trị sản xuất THTT xã hội hóa của công ty truyền thông trên sóng VTV

Phân tích chuyên sâu về quản trị sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa trên sóng đài truyền hình Việt Nam hiện nay. Đánh giá hiệu quả và thách thức.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

160
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quản trị sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa trên VTV

Quản trị sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa trên VTV là quá trình tổ chức, điều phối và kiểm soát toàn bộ hoạt động sản xuất nội dung phát sóng do các công ty truyền thông thực hiện trên sóng Đài Truyền hình Việt Nam. Mô hình xã hội hóa huy động nguồn lực từ nhiều thành phần kinh tế ngoài nhà nước tham gia sản xuất chương trình. Các công ty truyền thông đảm nhận vai trò sản xuất, trong khi VTV giữ quyền biên tập và phát sóng. Quá trình này bao gồm nhiều giai đoạn từ tiền kỳ đến hậu kỳ. Quản trị sản xuất hiệu quả đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan. Mục tiêu cuối cùng là tạo ra chương trình chất lượng phục vụ khán giả. Mô hình này giúp giảm gánh nặng ngân sách cho nhà nước. Đồng thời tạo cơ hội cho doanh nghiệp tham gia lĩnh vực truyền hình.

1.1. Khái niệm xã hội hóa trong sản xuất truyền hình

Xã hội hóa trong sản xuất truyền hình là quá trình huy động mọi nguồn lực của xã hội vào lĩnh vực sản xuất chương trình. Trước đây hoạt động này do nhà nước độc quyền thực hiện.Xã hội hóa giúp giảm bớt gánh nặng về chi phí và nhân lực cho nhà nước. Các tổ chức, cá nhân tham gia sản xuất được hưởng lợi ích từ chính sự đóng góp của mình. Mô hình này tạo ra sự đa dạng trong nội dung truyền hình. Nó phản ánh xu thế phát triển tất yếu của truyền thông hiện đại.

1.2. Vai trò của công ty truyền thông trong mô hình XHH

Công ty truyền thông đóng vai trò trung tâm trong sản xuất chương trình xã hội hóa. Họ chịu trách nhiệm từ khâu lên ý tưởng, biên tập đến tổ chức ghi hình và hậu kỳ. Các công ty như Laser-AD Media, Trường Thành Media là những đơn vị điển hình. Họ hợp tác với VTV theo nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Công ty truyền thông đầu tư kinh phí, nhân sự và thiết bị sản xuất. Đổi lại họ được phát sóng trên kênh truyền hình quốc gia có lượng khán giả lớn.

II. Các yếu tố cốt lõi trong quản trị sản xuất THTT xã hội hóa

Quản trị sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa trên VTV bao gồm nhiều yếu tố cốt lõi. Quản trị nội dung là yếu tố quan trọng nhất, đảm bảo chương trình có giá trị thông tin và giải trí. Quản trị nhân sự bao gồm biên tập viên, quay phim, kỹ thuật viên và MC dẫn chương trình. Quản trị công nghệ liên quan đến thiết bị quay phim, phần mềm dựng hình và hệ thống phát sóng. Quản trị tài chính đòi hỏi tính toán chi phí sản xuất hiệu quả cho các bên. Quản trị thời gian đảm bảo tiến độ sản xuất đúng deadline phát sóng. Quản trị thông tin phản hồi giúp chương trình được cải thiện liên tục. Mỗi yếu tố đều có vai trò riêng và tác động lẫn nhau. Sự hài hòa giữa các yếu tố quyết định chất lượng chương trình.

2.1. Quản trị nội dung và nhân sự sản xuất

Quản trị nội dung đòi hỏi chương trình phải đáp ứng tiêu chí của VTV về chính trị, văn hóa và xã hội. Ban biên tập VTV giữ quyền duyệt kịch bản và kiểm soát nội dung phát sóng. Quản trị nhân sự bao gồm tuyển chọn, đào tạo và phân công nhiệm vụ cho đội ngũ sản xuất. Biên tập viên cần có chuyên môn vững và am hiểu định hướng của đài. Đội ngũ quay phim, kỹ thuật viên phải thành thạo thiết bị hiện đại. Sự phối hợp nhịp nhàng giữa các vị trí công việc quyết định hiệu quả sản xuất.

2.2. Quản trị tài chính và công nghệ sản xuất

Quản trị tài chính là vấn đề sống còn trong sản xuất chương trình xã hội hóa. Kinh phí sản xuất来源于多方来源,包括赞助、广告收入和公司自有资金. Truyền hình là loại hình truyền thông rất tốn kém. Việc tính toán chi phí hợp lý giúp chương trình không bị lỗ và mang lại lợi ích kinh tế cho cả VTV lẫn công ty truyền thông. Quản trị công nghệ đảm bảo trang thiết bị hiện đại từ khâu ghi hình đến hậu kỳ. Công nghệ giúp sản phẩm hoàn thành nhanh hơn với chất lượng tốt hơn.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị sản xuất THTT xã hội hóa

Nâng cao hiệu quả quản trị sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa trên VTV đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ. Thứ nhất, cần xây dựng quy trình sản xuất chuyên nghiệp với các bước rõ ràng từ khâu ý tưởng đến phát sóng. Thứ hai, hợp đồng hợp tác giữa VTV và công ty truyền thông phải minh bạch quyền lợi và trách nhiệm. Thứ ba, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đội ngũ sản xuất. Thứ tư, ứng dụng công nghệ mới vào quy trình sản xuất để tăng năng suất. Thứ năm, xây dựng cơ chế đánh giá chất lượng chương trình khách quan. Thứ sáu, phát triển nguồn thu đa dạng từ quảng cáo và tài trợ. Thứ bảy, coi trọng phản hồi khán giả để cải thiện nội dung liên tục.

3.1. Xây dựng quy trình sản xuất chuyên nghiệp

Quy trình sản xuất chuyên nghiệp là nền tảng cho hiệu quả quản trị. Quy trình cần được chuẩn hóa từ khâu tiền kỳ, sản xuất đến hậu kỳ. Ở giai đoạn tiền kỳ, cần nghiên cứu kỹ đối tượng khán giả mục tiêu và xu hướng thị trường. Giai đoạn sản xuất đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận. Giai đoạn hậu kỳ bao gồm dựng hình, lồng tiếng và kiểm duyệt chất lượng. Mỗi bước trong quy trình cần có tiêu chí đánh giá rõ ràng. Quy trình chuẩn giúp giảm sai sót và tiết kiệm thời gian.

3.2. Tối ưu hóa hợp tác giữa VTV và công ty truyền thông

Hợp tác giữa VTV và công ty truyền thông cần dựa trên nguyên tắc đôi bên cùng có lợi. Hợp đồng hợp tác phải quy định rõ quyền sở hữu nội dung, tỷ lệ chia sẻ doanh thu và trách nhiệm pháp lý. VTV cần tạo cơ chế thông thoáng cho công ty truyền thông sáng tạo nội dung. Công ty truyền thông phải tuân thủ nghiêm ngặt định hướng biên tập của đài. Cơ chế phản hồi và điều chỉnh cần được thiết lập ngay từ đầu. Mối quan hệ hợp tác bền vững là yếu tố then chốt cho thành công lâu dài.

IV. Ứng dụng thực tiễn và xu hướng phát triển THTT xã hội hóa trên VTV

Ứng dụng thực tiễn mô hình quản trị sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa trên VTV đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Nhiều chương trình giải trí, giáo dục và văn hóa được sản xuất thành công nhờ mô hình này. Các công ty truyền thông đã góp phần đa dạng hóa nội dung trên sóng VTV. Xu hướng phát triển cho thấy mô hình xã hội hóa sẽ ngày càng mở rộng. Cách mạng công nghiệp 4.0 tạo ra nhiều cơ hội mới cho sản xuất truyền hình. Công nghệ trí tuệ nhân tạo và big data giúp tối ưu hóa sản xuất. Mạng xã hội trở thành kênh phân phối và tương tác quan trọng. Tuy nhiên cần kiểm soát chất lượng để đảm bảo bản sắc và uy tín của VTV. Mô hình quản trị sản xuất cần liên tục đổi mới để thích ứng với thay đổi thị trường.

4.1. Kết quả đạt được từ mô hình xã hội hóa trên VTV

Mô hình xã hội hóa đã giúp VTV đa dạng hóa nội dung phát sóng đáng kể. Nhiều chương trình giải trí hấp dẫn thu hút lượng lớn khán giả theo dõi. Chi phí sản xuất được giảm thiểu nhờ huy động nguồn lực từ bên ngoài. Các công ty truyền thông có cơ hội tiếp cận nền tảng phát sóng quốc gia uy tín. Đội ngũ sản xuất chuyên nghiệp được hình thành và phát triển. Mô hình này tạo ra hệ sinh thái truyền hình đa dạng và phong phú. Khán giả được hưởng lợi từ nội dung chất lượng cao.

4.2. Xu hướng công nghệ và tương lai mô hình XHH

Cách mạng công nghiệp 4.0 đang thay đổi căn bản sản xuất truyền hình xã hội hóa. Công nghệ trí tuệ nhân tạo hỗ trợ phân tích thị hiếu khán giả chính xác hơn. Big data giúp dự đoán xu hướng nội dung và tối ưu lịch phát sóng. Mạng xã hội trở thành kênh phân phối bổ sung quan trọng. Sản xuất nội dung đa nền tảng là xu hướng tất yếu. Công nghệ thực tế ảo và thực tế tăng cường mở ra trải nghiệm mới cho khán giả. Các công ty truyền thông cần đầu tư công nghệ để cạnh tranh hiệu quả.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

20/04/2026
Quản trị sản xuất chương trình truyền hình xã hội hóa của công ty truyền thông trên sóng đài truyền hình việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng I : Cơ sở lý luận & thực tiễn vấn đề quản trị sản xuất chƣơng trình truyền hình xã hội hóa. Chƣơng II : Thực trạng quản trị sản xuất chƣơng trình truyền hình xã hội hóa của công ty truyền thông. Chƣơng II: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lƣợng quản trị sản xuất chƣơng trình truyền hình xã hội hóa của công ty truyền thông. 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ QUẢN TRỊ SẢN XUẤT CHƢƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH XÃ HỘI HOÁ 1.

Một số khái niệm đƣợc sử dụng trong luận văn 1. Quản trị và quản trị truyền thông - Khái niệm quản trị: Từ xƣa đến nay, tất cả các tổ chức nói chung dù hoạt động trong bất kỳ lĩnh vực nào thì “quản trị” đã đang trở thành xu hƣớng tất yếu trong đời sống, gắn chặt với con ngƣời trong mọi lĩnh vực từ: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… Đã có rất nhiều cách hiểu khác nhau và mỗi tác giả khi đề cập đến khái niệm về quản trị cũng đều đƣa ra những quan điểm, định nghĩa riêng. Trong tiếng Anh, từ “Quản trị” có nghĩa là Administration. Ở cuốn từ điển tiếng Việt của tác giả Hoàng Phê thì “Quản là trông coi, điều khiển”, còn “Trị là đưa vào khuôn khổ”.

Quản trị có nghĩa là quản lí, điều hành công việc hàng ngày”. Ở cuốn giáo trình “Quản trị học căn bản” do TS. Trần Đăng Thịnh (chủ biên) đã đƣa ra hai khái niệm về “quản trị” của hai nhà nghiên cứu khoa học F.Fayol, đó là: Tác giả của học thuyết “Quản trị khoa học” F.Taylor (1856 - 1915) định nghĩa rằng: “Quản trị là nghệ thuật của sự hiểu rõ mình muốn làm gì và sau đó thấy được cách để làm việc đó một cách rẻ và tốt nhất” [42, tr. Còn tác giả của học thuyết “Quản trị hành chính” là H.Fayol (1841 – 1925) thì định nghĩa: “Quản trị là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm soát”.

Nhà nghiên cứu về lý thuyết hành vi, Mary Parker Follett thì định nghĩa “Quản trị là việc hoàn thành công việc thông qua người khác”. Có thể hiểu 13 những nhà quản trị đạt đƣợc mục tiêu của tổ chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những ngƣời khác, chứ không phải hoàn thiện công việc bằng chính mình. Trong thực tế có hai khái niệm thƣờng xuyên đƣợc sử dụng nhƣng hay bị nhầm lẫn, đó là khái niệm: quản trị và khái niệm quản lý. Theo quan điểm của C.

Mác thì “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy sinh từ bản chất xã hội của quá trình lao động” và luận điểm này của ông có thể áp dụng với mọi hoạt động chung của con ngƣời trong xã hội. Còn theo Từ điển Tiếng Việt, “Quản lý là trông coi và gìn giữ; là tổ chức và điều khiển các hoạt động của con người theo yêu cầu nhất định” [38, tr. “Quản lý” có thể đƣợc hiểu là sự tác động của chủ thể và khách thể quản lý nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức. Nói cách khác “quản lý” là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tƣợng quản lý nhằm chỉ huy điều hành hƣớng dẫn cắt quá trình hội và hành vi của cá nhân hƣớng đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với quy luật khách quan.

Quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu lập kế hoạch phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác của các tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra [38, tr. Còn “điều hành” là điều khiển mọi bộ phận và quy trình hoạt động chung [38, tr. Sau khi đã tham khảo qua một số quan niệm, định nghĩa về quản trị, kết hợp với thực tiễn, tác giả đã tổng hợp và khái quát thuật ngữ “quản trị” để phục vụ cho quá trình nghiên cứu của luận văn nhƣ sau: Hoạt động quản trị là quản lý bao gồm: tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các hoạt động của một đơn vị, tổ chức một cách có hệ thống nhằm mục đích hoàn thành mục tiêu đã đề ra của đơn vị, tổ chức đó”. Quá trình này đƣợc hiểu là nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra bằng việc phối hợp nguồn lực của tổ chức.

Do vậy, khi ta đặt trong sự so sánh đơn giản, quản trị có trách nhiệm dự báo, lập kế hoạch và triển khai thực hiện một nhiệm vụ trƣớc khi kiểm soát, giải quyết các vấn đề phát sinh khi thực hiện và đánh giá hiệu quả của nhiệm 14 vụ đó, trong khi quản lý lại thể hiện sự trông nom, chịu trách nhiệm trƣớc một công việc, một nhiệm vụ cụ thể. Có thể hiểu, quản trị mang tính nội bộ ở một đơn vị cụ thể; còn quản lý mang tính bao quát hơn quản trị. - Quản trị truyền thông: Theo cuốn “Lý thuyết truyền thông”, PGS,TS. Nguyễn Văn Dững đã đƣa ra quan niệm: “Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm.

chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội”. Nhƣ vậy, về bản chất truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tƣợng truyền thông cũng nhƣ sự thay đổi vị thế giữa chủ thể và công chúng. Khi có sự chênh lệnh trong trong nhận thức, hiểu biết. giữa chủ thể và đối tƣợng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra.

Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đạt đƣợc sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tƣợng truyền thông. Về mục đích truyền thông là hƣớng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tƣợng truyền thông và tạo định hƣớng giá trị cho công chúng. Theo các nhà nghiên cứu, quản trị còn đƣợc coi là một khoa học tổng hợp, đồng thời đó là một hình thức thực hiện hoạt động nghề nghiệp độc lập, hƣớng đến những mục tiêu xác định. Quản trị truyền thông cũng là một hình thức hoạt động nghề nghiệp độc lập, nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của các nhà quản lý, lãnh đạo đơn vị báo chí đó trên cơ sở sử dụng hợp lý các yếu tố cơ bản về vốn, cơ sở vật chất kỹ thuật – công nghệ và vốn con ngƣời trong mối quan hệ với công chúng, cũng nhƣ kết hợp tối ƣu các nhân tố của môi trƣờng bên trong và bên ngoài đơn vị báo chí truyền thông.

Nhƣ vậy, quản trị truyền thông đƣợc sử dụng trong luận văn này, có thể 15 đƣợc hiểu là chức năng quản trị nội bộ nhằm thiết lập, duy trì quy trình quản trị quá trình sản xuất chƣơng trình THXHH của công ty truyền thông, nhằm bảo đảm chất lƣợng sản xuất chƣơng trình THXHH, bảo đảm chất lƣợng chƣơng trình trên sóng Đài truyền hình Việt Nam. Công ty truyền thông Nhƣ đã nói ở trên, truyền thông đƣợc hiểu là quá trình trao đổi, truyền đạt thông tin, tƣơng tác giữa hai hoặc nhiều ngƣời với nhau để tăng cƣờng sự hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức về vấn đề, thƣơng hiệu. Truyền thông là một lĩnh vực chúng ta đã đƣợc tiếp xúc từ rất lâu, chúng xuất hiện bằng nhiều phƣơng thức đa dạng ở nhiều nơi, và đƣợc thể hiện qua nhiều phƣơng thức khác nhau nhất là khi công nghệ 4. Theo hiểu biết của tác giả, Công ty truyền thông là các doanh nghiệp đƣợc thành lập theo quy định của luật doanh nghiệp, ngành truyền thông bao gồm : truyền thông báo chí; truyền thông thực hành; truyền thông Media; nghiên cứu truyền thông.

Hầu hết các công ty truyền thông đều thực hiện những phần kể trên của truyền thông, hoạt động qua sự lan truyền thông tin, là sản phẩm của con ngƣời, là một kiểu hình thức tƣơng tác xã hội, chia sẻ thông điệp và tín hiệu chung từ ngƣời gửi tới ngƣời tiếp nhận. Công ty truyền thông là những đơn vị năng động trong cơ chế thị trƣờng, biết thu hút nguồn nhân lực có trình độ, biết cách đầu tƣ những trang thiết bị hiện đại. Họ biết cách đón đầu xu hƣớng, thị hiếu nghe nhìn của khán giả, biết khán giả cần gì và muốn gì. Trong hoạt động liên kết hợp tác với các cơ quan báo chí, đài truyền hình, công ty truyền thông vẫn hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (khác với các Trung tâm, Công ty thuộc các tổ chức báo, đài hoạt động theo Luật Báo chí).

Chương trình truyền hình và sản xuất CT truyền hình - Chƣơng trình truyền hình: Thuật ngữ “truyền hình” (television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh. Theo đó, thành tố “tele” có nghĩa là “ở xa” còn “vision” là “thấy đƣợc”. Television 16 nghĩa là xem đƣợc từ xa. Truyền hình là một loại hình báo chí xuất hiện sau báo in và phát thanh (đầu thế kỷ XX) nhƣng có tốc độ phát triển cực nhanh nhờ những tiến bộ của khoa học – kỹ thuật.

Truyền hình là một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội, là công cụ truyền thông thiết yếu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của hầu hết các quốc gia. Trong giáo trình “Cơ sở lý luận báo chí”, tác giả PGS,TS. Nguyễn Văn Dững đã nêu nhƣ sau: “Truyền hình là kênh truyền thông truyền tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động. Do đó, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác nhƣ đang trực tiếp tiếp xúc và cảm thụ.

Đó là bức tranh về cuộc sống thật nhƣng đƣợc thu nhỏ, đƣợc “rút gọn”, đƣợc “làm giàu thêm về ý nghĩa, làm sáng rõ hơn về hình thức”, đƣợc chắt lọc hơn về ý tƣởng và làm phong phú hơn về giá trị tinh thần giúp ngƣời xem nhận thức rõ hơn, đúng hơn và gần gũi sinh động hơn về những sự kiện và vấn đề của cuộc sống”. Ở giáo trình “Sản xuất chương trình truyền hình” của TS. Trần Bảo Khánh có nêu: Chƣơng trình – đó là hình thức thực tế hóa, hình thức vật chất hóa tồn tại của truyền hình trong đời sống xã hội để truyền tải thông tin đối với công chúng. Nếu không có chƣơng trình thì không có truyền hình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ