phần mở đầu, cấu trúc của luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về tín dụng chính sách đối với cải tạo, chăm sóc cà phê. download by : skknchat@gmail.com xviii Chƣơng 2: Thực trạng tín dụng đối với cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng. Chƣơng 3: Giải pháp mở rộng tín dụng chính sách đối với cây cà phê tại Ngân hàng Chính sách xã hội chi nhánh tỉnh Lâm Đồng. download by : skknchat@gmail.com 1 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI CẢI TẠO, CHĂM SÓC CÀ PHÊ 1.1 Lý luận chung về cải tạo, chăm sóc cà phê 1.1 Khái niệm về cải tạo, chăm sóc cà phê Đời sống của cây cà phê đƣợc chia làm 3 thời kỳ: Đầu tiên là thời kỳ sinh trƣởng, nó bắt đầu từ khi hạt cà phê nảy mầm và kết thúc khi cây đã trƣởng thành, thời kỳ này kéo dài từ 4 đến 7 năm tùy theo loài cà phê và các điều kiện ngoại cảnh.
Thời kỳ thứ hai là thời kỳ sản xuất, đó là thời kỳ dài nhất, có thể kéo dài từ 15 đến 20 năm. Thời kỳ cuối cùng là thời kỳ suy giảm về sinh lý và thƣờng xuất hiện sau 15 đến 20 năm cho quả. Ở thời kỳ này, cây cà phê già cỗi để lộ ra những dấu hiệu rõ rệt về sự suy giảm sinh lý học: bộ rễ bị suy thoái, thân, cành khô trụi, tán lá thƣa thớt, úa vàng và nhạy cảm với sâu bệnh, quả ít đi và thƣờng rụng non, chất lƣợng quả thấp, ngƣời trồng cà phê cần thực hiện ngay việc chăm sóc, cải tạo giống cà phê. Dƣới đây là các khái niệm về cải tạo, chăm sóc giống cà phê: - Cải tạo giống cà phê là phƣơng pháp cƣa bỏ một phần hoặc toàn bộ cây cà phê, tận dụng gốc cây cũ để ghép các mầm chồi từ các giống mới có năng suất cao và chất lƣợng quả tốt vào các chồi mọc lên từ gốc cũ.
- Chăm sóc cà phê là việc hằng năm vào đầu mùa khô phải tiến hành diệt cỏ dại chung quanh vƣờn cà phê, làm sạch cỏ thành băng dọc theo hàng cà phê với chiều rộng lớn hơn tán cây cà phê để diệt trừ các loại cỏ lâu năm, có khả năng sinh sản vô tính nhƣ cỏ tranh, cỏ gấu.có thể dùng hóa chất diệt cỏ có hoạt chất glyphosate nhƣ Round up, Spark, Nufarm.2 Các quan điểm về cải tạo, chăm sóc cây cà phê Trong vƣờn cà phê thƣờng có một số sâu bệnh gây hại cho bộ rễ cà phê nhƣ một số loại nấm và tuyến trùng. Khi cây cà phê đã lớn, có bộ rễ khỏe và phân bố rộng, nhiều tầng ở trong đất do vậy nấm bệnh không hủy hoại đƣợc bộ rễ của cây cà phê. Nhƣng khi trồng chăm sóc thì bộ rễ của cây con ở năm trồng mới hay ở 2 năm kiến thiết cơ bản thì nấm bệnh còn lại ở trong đất sẽ tập trung tấn công xâm nhập và phá hủy bộ rễ còn nhỏ bé, yếu ớt của cây cà phê từ phần rễ đuôi chuột trở lên làm cho cây bị héo, vàng rồi chết một cách nhanh chóng. Một số quan điểm về cải tạo, chăm sóc giống cà phê nhƣ sau: download by : skknchat@gmail.com 2 - Quan điểm thứ nhất là phải thực hiện trồng cây luân canh: Sau khi nhổ bỏ cây, cày bừa, rà rễ, lƣợm rễ đem đi đốt, tùy theo mật độ tuyến trùng mà thực hiện trồng luân canh với cây trồng khác (cây lƣơng thực, cây thực phẩm) từ 2 đến 3 năm.
Trong thời gian này sẽ không còn cây ký chủ để ký sinh do vậy nấm bệnh và tuyến trùng không còn có điều kiện để sinh sống và tồn tại nữa. Sau từ 2 đến 3 năm năm mới đƣợc trồng mới lại cà phê thì mới an toàn. Đây là điều kiện bắt buộc để tránh hậu quả là các vƣờn cây cà phê trồng mới lại sẽ bị chết, phải thanh lý vì không có đủ thời gian luân canh để loại trừ nấm bệnh còn tồn tại ở trong đất. - Quan điểm thứ hai là không nhất thiết phải trồng cây luân canh: Có thể dùng chế phẩm sinh học để xử lý tuyến trùng nhằm giảm chi phí đầu tƣ, rút ngắn thời gian đất nghỉ, không gián đoạn thu nhập mà v n đảm bảo an toàn vƣờn cây trƣớc nguy cơ bệnh hại.
- Quan điểm của tác giả: Tất cả những vùng đất đã trồng cà phê, ít hay nhiều đều có tuyến trùng gây bệnh. Tuy nhiên, nếu áp dụng đúng quy trình kỹ thuật là phải thực hiện trồng cây luân canh từ 2 đến 3 năm mới bắt đầu trồng lại cà phê thì sẽ ảnh hƣởng đến sản lƣợng cà phê, kim ngạch xuất khẩu và vị thế của cà phê Việt Nam trên thị trƣờng thế giới. Hiện nay trên thị trƣờng đã xuất hiện nhiều chế phẩm sinh học nhƣ A- H, N-H có thể dùng cho chăm sóc cà phê vừa nâng cao sức đề kháng của cây, vừa ức chế sự phát triển của mầm bệnh. Với biện pháp này sẽ giải đƣợc bài toán trƣớc mắt trong chăm sóc vƣờn cây cà phê già cỗi là giảm chi phí đầu tƣ, rút ngắn thời gian nghỉ của đất và không gián đoạn thu nhập cho ngƣời trồng cà phê.2 Vai trò của hoạt động tín dụng chính sách đối với cây cà phê 1.1 Cơ sở lý luận về tín dụng chính sách 1.1 Tín dụng chính sách Đối tƣợng chính sách là những ngƣời nghèo, rất nghèo, những ngƣời không có việc làm, thu nhập thấp hoặc những hộ gia đình có công với cách mạng nhƣng gặp hoàn cảnh khó khăn, hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa… Các đối tƣợng chính sách bao gồm: - Hộ nghèo - Hộ gia đình có công với cách mạng.
- Hộ gia đình thƣơng binh, liệt sỹ. - Hộ gia đình là đồng bào dân tộc thiểu số có thu nhập thấp. download by : skknchat@gmail.com 3 - Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng thƣờng xuyên xảy ra thiên tai. - Hộ gia đình có hoàn cảnh khó khăn (già cả, neo đơn, tàn tật…).
- Hộ gia đình đang sinh sống trong vùng đặc biệt khó khăn. Các đối tƣợng vay vốn tại NHCSXH chủ yếu là do Chính phủ chỉ định tại mỗi chƣơng trình cho vay của NHCSXH theo những tiêu chí cụ thể. Mỗi chƣơng trình cho vay có quy định rõ đối tƣợng đƣợc vay vốn. Cụ thể: - Nếu đối tƣợng vay là hộ nghèo, hộ cận nghèo thì căn cứ vào Quyết định của Thủ tƣớng Chính phủ về chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho từng thời kỳ.
- Nếu đối tƣợng vay thuộc diện gia đình có công với các mạng, gia đình thƣơng binh, liệt sỹ đều có trong danh sách do cấp xã quản lý theo dõi… Vì vậy, Chủ tịch UBND cấp xã có vai trò rất quan trọng trong việc phê duyệt danh sách hộ gia đình đề nghị vay vốn trên hồ sơ vay vốn của NHCSXH. Trong cuộc sống hàng ngày của các đối tƣợng chính sách (bao gồm ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác – thuật ngữ này sẽ đƣợc sử dụng trong luận văn), việc rơi vào tình trạng thiếu hụt các khoản tài chính cho các nhu cầu thiết yếu nhƣ ăn, ở, đi lại, học hành, việc làm… cho tới các nhu cầu khẩn cấp nhƣ bị ốm đau, trộm cắp, thiên tai thậm chí là các nhu cầu dài hạn nhƣ xây dựng nhà ở, mua nguyên vật liệu, sản xuất kinh doanh diễn ra thƣờng xuyên. Việc thiếu hụt nguồn tài chính tài trợ cho các nhu cầu này là lực cản lớn đối với khả năng xóa đói, giảm nghèo của chính bản thân ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác cũng nhƣ mục tiêu bảo đảm an sinh xã hội của một quốc gia. Có điều này là vì dù họ có sức lao động, có mong muốn vƣơn lên nhƣng do khó tiếp cận với các nguồn lực khiến cho họ rơi vào vòng luẩn quẩn là b y nghèo và những bất bình đẳng khác.
Những hạn chế về khả năng đáp ứng các quy định về vay vốn của TCTD khiến cho các đối tƣợng chính sách gần nhƣ không thể tìm ra nguồn vốn tài chính đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt và sản xuất kinh doanh. Gắn kết đặc điểm này cùng với vai trò quan trọng của Nhà nƣớc đối với công tác giảm nghèo d n tới sự cần thiết của Nhà nƣớc trong việc cung cấp, hỗ trợ cung cấp nguồn tín dụng chính sách cho nhóm đối tƣợng này. Để thực hiện công cuộc giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội, Nhà nƣớc thƣờng sử dụng các công cụ tài chính nhƣ thu, chi ngân sách để hƣớng nguồn lực tài chính của Nhà nƣớc và xã hội một cách có hiệu quả nhất tới ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác, giúp cho họ có thể có vốn để download by : skknchat@gmail.com 4 sinh hoạt, sản xuất kinh doanh, từ đó thoát nghèo. Trên cơ sở đó, khái niệm tín dụng chính sách cho các đối tƣợng chính sách có thể đƣợc hiểu nhƣ sau: Tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động, cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn với các ưu đãi so với tín dụng thông thường, để phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội.
Từ định nghĩa tín dụng chính sách cho ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác, có thể rút ra các điểm cần chú ý nhƣ sau [4]: Thứ nhất, mục tiêu của tín dụng cho các đối tƣợng chính sách là nhằm giúp cho họ có vốn để sản xuất, kinh doanh tạo việc làm nâng cao thu nhập. Tín dụng chính sách cho các đối tƣợng chính sách không vì mục tiêu lợi nhuận, mà vì mục tiêu giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội. Thứ hai, nguyên tắc tín dụng chính sách phải sử dụng vốn đúng mục đích bảo đảm hoàn trả đƣợc vốn vay (gồm cả gốc l n lãi) cho TCTD đúng thời hạn nhƣ đã thỏa thuận. Thứ ba, tín dụng chính sách đƣợc ƣu đãi bao gồm: ƣu đãi về điều kiện vay vốn nhƣ tài sản bảo đảm tiền vay, thủ tục và các quy trình giải ngân, ƣu đãi về lãi suất vay vốn và thời hạn vay vốn.
Điều kiện cấp tín dụng cho các đối tƣợng chính sách phải bảo đảm đƣợc tính linh hoạt và phù hợp với hoàn cảnh của họ.