Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp cử nhân ngành Địa lý của tác giả Lâm Nữ Huyền Trâm (Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2002) tiếp cận đề tài nghiên cứu dưới góc độ Địa lý kinh tế - nông nghiệp. Nghiên cứu xuất phát từ định hướng thực tiễn của khoa học Địa lý: phát huy nguyên tắc học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn sản xuất xã hội.
Bối cảnh thực tiễn được tác giả xác định dựa trên bốn lý do chính:
- Lợi thế tự nhiên và truyền thống canh tác: Đông Nam Bộ có điều kiện tự nhiên thích hợp cho sinh trưởng của cây ngô (Zea mays L.). Nông dân trong vùng cần cù, giàu kinh nghiệm, giúp Đông Nam Bộ liên tục giữ vị trí dẫn đầu cả nước về diện tích gieo trồng và sản lượng ngô.
- Tiềm năng chưa được khai thác triệt để: Dù giữ vị thế đứng đầu toàn quốc, quy mô, năng suất và sản lượng ngô của vùng vẫn chưa thật sự ổn định, còn dư địa mở rộng rất lớn.
- Mối liên kết nông - công nghiệp còn yếu: Mối liên hệ hữu cơ giữa khâu trồng trọt (nông nghiệp) với khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch (công nghiệp) trên cả nước nói chung và Đông Nam Bộ nói riêng còn rời rạc. Việc thiếu công nghệ chế biến sâu khiến giá trị gia tăng của nông sản ngô bị hạn chế, chủ yếu dừng ở dạng bán sản phẩm thô hoặc sơ chế.
- Tính cấp thiết kinh tế: Trong bối cảnh chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế và hội nhập, ngô trở thành mặt hàng nông sản quan trọng phục vụ chăn nuôi, tiêu dùng thực phẩm và xuất khẩu. Mâu thuẫn trung tâm mà khóa luận chỉ ra là: cây ngô có giá trị kinh tế cao, nhu cầu thị trường tăng, nhưng vùng Đông Nam Bộ chưa khai thác hết tiềm năng do thiếu gắn kết đồng bộ giữa sản xuất và chế biến.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu được phân định cụ thể trong văn bản:
- Nhiệm vụ nghiên cứu (Mục 2.1):
- Nghiên cứu khái quát các yếu tố tự nhiên và kinh tế - xã hội của Đông Nam Bộ.
- Nghiên cứu khái quát đặc điểm sinh lý, sinh thái của cây ngô.
- Nghiên cứu khái quát về cây ngô.
- Nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến tình hình sản xuất và chế biến cây ngô ở Đông Nam Bộ.
- Nghiên cứu tình hình sản xuất và chế biến cây ngô ở Đông Nam Bộ.
- Mục đích nghiên cứu (Mục 2.2):
- Nhận xét và đánh giá về tình hình sản xuất và chế biến cây ngô ở Đông Nam Bộ.
- Nhận xét, đánh giá cây ngô về mặt kinh tế.
- Đề xuất một số phương hướng nhằm tạo sự chuyển biến trong tình hình sản xuất và chế biến cây ngô ở Đông Nam Bộ.
- Dự đoán tình hình sản xuất và chế biến ngô ở Đông Nam Bộ trong tương lai.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Cây ngô, tập trung vào hai khâu chính là tình hình sản xuất nông nghiệp và hoạt động công nghiệp chế biến.
- Phạm vi không gian: 9 tỉnh, thành phố thuộc vùng Đông Nam Bộ (theo phân vùng thời điểm nghiên cứu năm 2002), bao gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Bình Thuận, Ninh Thuận và Lâm Đồng. Tọa độ địa lý giới hạn từ 10°3'B (Phước Thiện - Vũng Tàu) đến 12°3'B (Lạc Dương - Lâm Đồng) và từ 106°B (Tân Biên - Tây Ninh) đến 109°3'Đ (Vĩnh Hy - Ninh Thuận).
- Phạm vi thời gian: Trọng tâm khảo sát từ năm 1990 đến năm 2001, có đối chiếu với chuỗi số liệu phát triển từ năm 1975 và 1986.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng
Khóa luận xây dựng nền tảng lý luận dựa trên học thuyết về liên kết (nhất thể hóa - Integratio) kinh tế giữa nông nghiệp và công nghiệp:
- Khái niệm liên kết nông - công nghiệp: Là sự xích lại gần nhau, thống nhất hữu cơ giữa các đơn vị sản xuất nông nghiệp và xí nghiệp chế biến trong tổng thể sản xuất lãnh thổ nhằm tối ưu hóa chi phí, bảo đảm phân công lao động xã hội và nâng cao giá trị nông phẩm.
- Liên kết theo chiều ngang (Horizontal Integration): Phản ánh mối quan hệ hợp tác, chuyên môn hóa và tập trung hóa giữa các bộ phận trong nội bộ ngành nông nghiệp (như hợp tác sản xuất giống ngô lai, dịch vụ làm đất, thủy lợi, cung ứng vật tư).
- Liên kết theo chiều dọc (Vertical Integration): Chuỗi liên hệ kinh tế - kỹ thuật liên ngành xuyên suốt từ sản xuất tư liệu nông nghiệp, gieo trồng, thu hoạch, bảo quản đến công nghiệp chế biến thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và tiêu thụ thương mại.
- Các mô hình liên hợp công - nông nghiệp quốc tế: Tác giả dẫn chứng các mô hình tổ chức như Xí nghiệp công nông nghiệp (APP), Nhà máy liên hợp công nông nghiệp (APK), và Tổ hợp nông công nghiệp (APO) từ kinh nghiệm của Liên Xô (cũ), CHDC Đức (cũ) và Bulgaria.
- Cơ sở pháp lý và chính sách: Khóa luận liên hệ trực tiếp với cơ chế chính sách Khoán 10 trong nông nghiệp, Luật Đất đai, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và chính sách chuyển đổi cơ cấu cây trồng.
Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
Tác giả áp dụng 4 quan điểm đánh giá và 5 phương pháp nghiên cứu địa lý chuyên ngành:
- 4 quan điểm đánh giá: Quan điểm hệ thống; Quan điểm môi trường; Quan điểm lịch sử - viễn cảnh; Quan điểm kinh tế.
- 5 phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thống kê: Thu thập, xử lý các chuỗi số liệu thứ cấp về diện tích, năng suất, sản lượng ngô, dân số và hạ tầng.
- Phương pháp thực địa và phỏng vấn: Khảo sát thực tế nông hộ và cơ sở sản xuất, thu thập ý kiến người dân tại địa bàn.
- Phương pháp sơ đồ hóa: Thiết lập sơ đồ chu chuyển dòng vật chất và sơ đồ chu kỳ sinh trưởng của cây trồng.
- Phương pháp bản đồ - biểu đồ: Thể hiện phân bố không gian và động thái phát triển kinh tế.
- Phương pháp phân tích so sánh: Đối chiếu các giai đoạn phát triển, so sánh giữa các tiểu vùng và giữa các nhóm giống ngô.
Nguồn dữ liệu
Số liệu và tư liệu trong công trình được thu thập từ: Chi cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Miền Nam, Phân viện Công nghệ Sau thu hoạch, Trạm Khuyến nông Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Giống cây trồng miền Nam (Hưng Lộc - Đồng Nai), Niên giám thống kê và các công trình khoa học chuyên ngành nông học (Ngô Hữu Tình, Trần Hồng Uy, Trương Đích, Nguyễn Thế Hùng...).
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý luận
Chương I tập trung làm rõ bản chất kinh tế của mối quan hệ biện chứng giữa nông nghiệp và công nghiệp. Tác giả phân tích các dòng trao đổi vật chất hai chiều: nông nghiệp cung cấp lương thực, nguyên liệu thô cho công nghiệp nhẹ và chế biến thực phẩm; ngược lại, công nghiệp cung ứng máy móc, thiết bị canh tác, phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật và thức ăn tổng hợp.
Luận điểm cốt lõi của chương là phân tích tính tất yếu của liên kết dọc và liên kết ngang. Tác giả chỉ ra rằng nếu xuất khẩu nông sản thô theo kiểu truyền thống, giá trị thu về rất thấp; chỉ khi liên kết chặt chẽ với công nghiệp chế biến để tạo ra thành phẩm tinh chế thì hiệu quả kinh tế mới đạt mức tối ưu, đồng thời hạn chế được tính thời vụ và tình trạng hao hụt nông sản sau thu hoạch.
Chương II: Nguồn lực tự nhiên và kinh tế xã hội vùng Đông Nam Bộ
Chương II phân tích toàn diện các tiền đề tự nhiên và nhân văn chi phối sự phân bố, sản xuất ngô tại 9 tỉnh thành Đông Nam Bộ:
- Đặc điểm sinh học và sinh thái của cây ngô (Zea mays L.):
Cây ngô có nguồn gốc nhiệt đới (Mexico và Peru theo Vavilov, 1926). Yêu cầu tổng tích ôn từ 2300 đến 3000°C; nhiệt độ nảy mầm tối thích 25 - 35°C (tối thiểu 8 - 12°C, tối đa 40 - 45°C); nhiệt độ trổ cờ tung phấn thích hợp là 18 - 22°C (thụ phấn tối ưu 22 - 28°C; trên 35°C hoặc độ ẩm dưới 50% hạt phấn dễ chết).
Nhu cầu nước: một cây ngô cần 200 lít nước trong vòng đời; 1 ha cần 3000 - 4000 m³ nước (tương đương 300 - 400 mm mưa phân bố đều), vùng không chủ động tưới cần 500 - 600 mm mưa. Ngô sợ ngập úng, ưa đất tơi xốp, tầng canh tác dày, pH trung tính từ 6 - 7.
- Phân loại nhóm giống và chu kỳ sinh trưởng:
Tác giả phân loại 3 nhóm giống: giống thụ phấn tự do (ngô nếp, gié Hà Bắc, TH2A, TSB1, TSB2, VM1, MSB49, Q2, VN1); giống ngô lai không quy ước (LS4, LS5, LS6, LS8); giống ngô lai quy ước gồm lai đơn, lai ba, lai kép (DK888, P11, Bioseed 9670, Uniseed 90, T5, LVN10, LVN11, LVN12, LVN19). Chu kỳ sinh trưởng trải qua 5 giai đoạn: nảy mầm (0 - 3 lá), cây con (3 lá đến phân hóa hoa), vươn cao, nở hoa thụ tinh (10 - 15 ngày), và thời kỳ chín (30 - 45 ngày gồm chín sữa, chín sáp, chín hoàn toàn).
- Địa hình và thổ nhưỡng Đông Nam Bộ:
Quỹ đất gồm 12 nhóm chính, trong đó diện tích nông nghiệp chiếm 27,1%, lâm nghiệp 39,6%, đất chưa sử dụng còn 26,7%. Ba nhóm đất thuận lợi nhất là đất nâu đỏ trên bazan, đất nâu vàng trên bazan và đất xám phù sa cổ. Đất phù sa ven sông Đồng Nai, sông Bé, sông Sài Gòn và đất đen núi lửa (Định Quán, Thống Nhất, Long Khánh) rất thích hợp trồng ngô. Địa hình chuyển tiếp đa dạng: núi thấp (Ba Rá 950m, Ngọc Lĩnh 2598m), đồi lượn sóng bazan (20 - 150m), đồng bằng và các cao nguyên (Di Linh, Bảo Lộc, Lâm Viên).
- Khí hậu và thủy văn:
Khí hậu cận xích đạo với mùa mưa (tháng 5 - 11) chiếm 90% lượng mưa (1800 - 2000 mm/năm) và mùa khô (tháng 12 - 4). Hình thành hai hệ thống canh tác: nông nghiệp nhờ mưa (sản xuất ngô, cao su, điều trong mùa mưa) và nông nghiệp có tưới (2 - 3 vụ/năm). Hệ thống sông Đồng Nai - Xoài Rạp (lưu vực ~40.000 km², chiều dài 635 km) cùng hai hồ chứa lớn là hồ Trị An và hồ Dầu Tiếng (dung tích 3,6 tỷ m³) cung cấp nguồn nước mặt dự trữ gần 4 tỷ m³. Trữ lượng nước ngầm đạt khoảng 4 tỷ m³/năm.
- Nguồn lực kinh tế - xã hội:
Dân số toàn vùng đạt 12,9 triệu người (năm 1997, chiếm 17% cả nước), tỷ lệ gia tăng tự nhiên 2,1%, mức gia tăng cơ học hàng năm đạt 2 - 2,5% (Thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 80 vạn người cư trú chưa có hộ khẩu). Mật độ dân số trung bình 327 người/km² (TP.HCM cao nhất: 2334 người/km²; Bình Phước thấp nhất: 78 người/km²). Tỷ lệ biết chữ đạt 88,82%. Nguồn nhân lực chiếm 60% dân số, lao động có việc làm đạt 52,3%, lao động kỹ thuật chiếm 22% (năm 1998). Cơ sở hạ tầng năng lượng gồm thủy điện Trị An (400MW), Đa Nhim (160MW), Thác Mơ (150MW); các nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ (2400MW), Bà Rịa (177MW), Thủ Đức (165MW) và lưới điện quốc gia 500kV (năm 1995).
| Nhóm chỉ tiêu |
Dữ liệu ghi nhận trong văn bản |
| Dân số & Lao động (1997 - 1998) |
Dân số: 12,9 triệu người; Lao động: 60% dân số; Lao động kỹ thuật: 22%; Tỷ lệ biết chữ: 88,82% |
| Hạ tầng năng lượng |
Thủy điện: Trị An (400MW), Đa Nhim (160MW), Thác Mơ (150MW); Nhiệt điện: Phú Mỹ (2400MW), Bà Rịa (177MW), Thủ Đức (165MW); Đường dây 500kV (1487km) |
| Tài nguyên nước |
Lưu vực sông Đồng Nai: ~40.000 km²; Nước mặt dự trữ: ~4 tỷ m³ (Hồ Dầu Tiếng, Trị An: 3,6 tỷ m³); Nước ngầm: ~4 tỷ m³/năm |
| Cơ cấu quỹ đất |
Đất nông nghiệp: 27,1%; Đất lâm nghiệp: 39,6%; Đất chưa sử dụng: 26,7% |
Chương III: Tình hình sản xuất ngô tại Đông Nam Bộ
Chương III trình bày số liệu phát triển ngành ngô:
- Sự phát triển sản xuất toàn quốc: Năm 1986, diện tích ngô cả nước đạt 40 vạn ha, năng suất 14 tạ/ha, sản lượng 569,8 ngàn tấn. Đến năm 1999, diện tích mở rộng, năng suất đạt 27 tạ/ha, sản lượng đạt 1,8 triệu tấn.
- Quy mô vùng Đông Nam Bộ: Trở thành vùng sản xuất ngô hàng hóa tập trung lớn với sản lượng đạt 30 vạn tấn (đứng sau miền núi Trung du Bắc Bộ với 50 vạn tấn). Xuất khẩu ngô cả nước đạt quy mô trên 100 ngàn tấn/năm.
- Kỹ thuật canh tác và giống: Nông dân tiếp nhận các giống ngô lai năng suất cao (DK888, LVN10, T6...) từ Trung tâm Khuyến nông Hưng Lộc. Mật độ gieo trồng tại các tỉnh phía Nam được khuyến nghị: giống chín trung bình và muộn bố trí khoảng cách 70 x 28 - 30 cm (mật độ 5,1 - 4,7 vạn cây/ha); giống chín sớm bố trí 65 x 22 - 25 cm (mật độ 5,7 - 5,1 vạn cây/ha).
Chương IV: Tình hình chế biến ngô tại Đông Nam Bộ
Chương IV phân tích cơ cấu chế biến ngô thành hai nhóm sản phẩm:
- Nhóm sản phẩm làm thực phẩm cho người: Chế biến truyền thống và bán công nghiệp gồm ngô hạt luộc, ngô nếp, bột ngô, ngô rang/sấy, sữa bắp và mặt hàng ngô rau (bắp non) phục vụ tiêu dùng nội địa và chế biến đóng hộp xuất khẩu.
- Nhóm sản phẩm cho chăn nuôi: Sử dụng hạt ngô nghiền làm thành phần tinh bột phối trộn thức ăn hỗn hợp cho gia súc, gia cầm; tận dụng thân, lá, vỏ bi sau thu hoạch làm thức ăn thô xanh và ủ chua cho bò sữa, bò thịt.
Tác giả chỉ ra hạn chế lớn là phương thức chế biến trên địa bàn Đông Nam Bộ phần nhiều còn mang tính thủ công, nhỏ lẻ; mạng lưới nhà máy chế biến sâu chưa gắn kết trực tiếp thành vùng nguyên liệu liên hoàn.
Chương V: Những kiến nghị và một vài ý kiến đề xuất
Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:
- Về liên kết tổ chức: Xây dựng mô hình liên kết chặt chẽ giữa nông dân trồng ngô và các doanh nghiệp chế biến thức ăn gia súc, thực phẩm; hình thành hợp đồng bao tiêu sản phẩm để ổn định giá thu mua.
- Về khoa học kỹ thuật và giống: Nhân rộng việc đưa các giống ngô lai đơn, lai kép có ưu thế lai cao vào sản xuất đại trà; chuyển giao kỹ thuật làm đất, bón phân cân đối N-P-K và phòng trừ sâu bệnh từ các trạm khuyến nông.
- Về công nghệ sau thu hoạch: Đầu tư phương tiện cơ giới tách hạt, sân phơi, lò sấy cưỡng bức và hệ thống kho chứa đạt chuẩn kỹ thuật nhằm giảm tỷ lệ thất thoát, ẩm mốc hạt ngô trong mùa mưa.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
Khóa luận đã tổng hợp hệ thống chỉ tiêu phát triển của ngành ngô Việt Nam và vùng Đông Nam Bộ qua các mốc thời gian:
| Chỉ tiêu |
Năm 1986 (Toàn quốc) |
Năm 1999 (Toàn quốc) |
Vùng Đông Nam Bộ (Thời điểm nghiên cứu) |
| Diện tích gieo trồng |
40 vạn ha |
Tăng trưởng mạnh |
Vùng chuyên canh tập trung hàng đầu |
| Năng suất bình quân |
14 tạ/ha |
27 tạ/ha |
Tăng nhanh nhờ đưa giống ngô lai vào sản xuất |
| Sản lượng |
569,8 ngàn tấn |
1,8 triệu tấn |
Đạt 30 vạn tấn (chiếm tỷ trọng lớn) |
| Quy mô xuất khẩu |
Thấp / Chủ yếu tự cấp |
Trên 100 ngàn tấn/năm |
Có tiềm năng xuất khẩu nông sản và ngô rau |
Giải pháp và kiến nghị
- Tăng cường đầu tư đồng bộ cho hệ thống bảo quản, sấy hạt sau thu hoạch để giải quyết mâu thuẫn giữa vụ thu hoạch ngô trùng với mùa mưa tại Đông Nam Bộ.
- Thiết lập quy hoạch vùng chuyên canh ngô gắn liền với các nhà máy chế biến thức ăn gia súc tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương.
- Mở rộng diện tích trồng ngô rau xuất khẩu có giá trị kinh tế cao, tận dụng phụ phẩm thân lá phát triển đàn gia súc.
Đóng góp của đề tài
Tác giả tự khẳng định: Mặc dù đã có các công trình nghiên cứu riêng lẻ về cây ngô hoặc các đề tài liên kết nông - công nghiệp cho cây cao su (Đồng Nai), cây mía (ĐBSCL), đậu tương (Đồng Nai), cây có củ (Đông Nam Bộ), nhưng công trình này là khóa luận đầu tiên tổng hợp và phân tích toàn diện đồng thời cả hai khâu "sản xuất" và "chế biến" ngô trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ 9 tỉnh Đông Nam Bộ dưới góc nhìn Địa lý kinh tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của công trình:
Khóa luận thực hiện năm 2002 nên nguồn số liệu thứ cấp về công nghiệp chế biến sâu chưa thật đầy đủ do ngành công nghiệp chế biến ngô thời điểm đó còn sơ khai, chủ yếu là chế biến thủ công trong dân gian hoặc cung cấp nguyên liệu thô cho các cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi. Các thông tin điều tra thực địa còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận tại một số trung tâm giống và địa phương trọng điểm.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
Theo dõi biến động thị trường tiêu thụ nông sản và xuất nhập khẩu ngô khi nền kinh tế chuyển dịch cơ cấu; đánh giá sâu hơn hiệu quả của các mô hình liên kết dọc giữa doanh nghiệp chế biến công nghiệp quy mô lớn với các hợp tác xã nông nghiệp chuyên canh ngô lai trong giai đoạn tiếp theo.
Giá trị tham khảo
Tài liệu là nguồn tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Địa lý học (Địa lý Kinh tế - Xã hội, Địa lý Nông nghiệp): Tham khảo phương pháp xây dựng khung lý thuyết liên kết nông - công nghiệp (Chương I) và cách thức thu thập, xử lý số liệu địa lý vùng.
- Người nghiên cứu ngành Nông nghiệp và Quản lý tài nguyên: Tham khảo phần tổng hợp hệ thống về đặc tính sinh thái, nhu cầu dinh dưỡng, kỹ thuật bố trí mật độ mùa vụ cây ngô và bức tranh phân bố tài nguyên đất đai, thủy văn 9 tỉnh Đông Nam Bộ giai đoạn trước năm 2002 (Chương II).
Câu hỏi thường gặp
1. Cây ngô đòi hỏi những điều kiện sinh thái (nhiệt độ, nước, đất) như thế nào theo khóa luận?
Theo Chương II, cây ngô yêu cầu tổng tích ôn 2300 - 3000°C; nhiệt độ nảy mầm tối thích 25 - 35°C; nhiệt độ trổ cờ tung phấn thích hợp là 18 - 22°C (thụ phấn 22 - 28°C). Cây ngô cần khoảng 200 lít nước/cây trong suốt vòng đời (tương đương 3000 - 4000 m³/ha hoặc lượng mưa 300 - 400 mm phân bố đều). Đất trồng cần tơi xốp, tầng mặt dày, thoát nước tốt, tránh úng ngập và có độ pH trung tính từ 6 - 7.
2. Sự khác biệt giữa liên kết nông - công nghiệp theo chiều ngang và theo chiều dọc là gì?
Liên kết ngang là sự hợp tác, phân công lao động giữa các bộ phận độc lập trong nội bộ ngành nông nghiệp (như sản xuất giống, làm đất, dịch vụ tưới tiêu) trên cơ sở chuyên môn hóa mà không làm mất tính độc lập pháp lý của các đơn vị. Liên kết dọc là chuỗi phối hợp liên ngành từ cung ứng vật tư nông nghiệp -> trồng trọt -> thu hoạch, bảo quản -> công nghiệp chế biến -> phân phối tiêu thụ nông phẩm cuối cùng.
3. Tác giả phân chia các giống ngô canh tác tại Việt Nam thành những nhóm nào?
Khóa luận chia thành 3 nhóm giống chính: (1) Giống ngô thụ phấn tự do (giống địa phương như gié Hà Bắc, ngô nếp; giống tổng hợp như TH2A, TSB1, TSB2, VM1, MSB49, Q2, VN1); (2) Giống ngô lai không quy ước (LS4, LS5, LS6, LS8); (3) Giống ngô lai quy ước gồm lai đơn, lai ba, lai kép (DK888, P11, Bioseed 9670, Uniseed 90, T5, LVN10, LVN11, LVN12, LVN19).
4. Tình hình tăng trưởng sản lượng ngô cả nước giai đoạn 1986 - 1999 đạt những con số nào?
Năm 1986, diện tích ngô cả nước đạt 40 vạn ha, năng suất 14 tạ/ha, sản lượng đạt 569,8 ngàn tấn. Đến năm 1999, năng suất bình quân cả nước tăng lên 27 tạ/ha, sản lượng đạt 1,8 triệu tấn. Trong đó, Đông Nam Bộ vươn lên thành vùng sản xuất hàng hóa tập trung với sản lượng đạt 30 vạn tấn.
5. Những yếu tố hạ tầng và nguồn nhân lực nào của Đông Nam Bộ được tác giả đánh giá?
Đông Nam Bộ có nguồn lao động chiếm 60% dân số, tỷ lệ lao động kỹ thuật 22% (năm 1998), tỷ lệ biết chữ 88,82%. Về hạ tầng, vùng có mạng lưới giao thông quy tụ tại Thành phố Hồ Chí Minh; hệ thống năng lượng gồm các nhà máy thủy điện Trị An (400MW), Đa Nhim (160MW), Thác Mơ (150MW), nhiệt điện Phú Mỹ (2400MW) và đường dây truyền tải điện 500kV Bắc - Nam (1995).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lâm Nữ Huyền Trâm đã phản ánh toàn diện hiện trạng sản xuất và chế biến cây ngô tại vùng Đông Nam Bộ trong giai đoạn đổi mới (1990 - 2001). Bằng việc kết hợp giữa lý luận liên kết nông - công nghiệp với phân tích thực chứng các điều kiện địa lý tự nhiên, sinh thái cây trồng và nguồn lực nhân văn, công trình đã làm rõ tiềm năng to lớn cũng như những điểm nghẽn trong khâu chế biến sau thu hoạch của vùng. Các số liệu và giải pháp tác giả đưa ra cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị về địa lý nông nghiệp và bức tranh kinh tế vùng Đông Nam Bộ đầu thập niên 2000.