Mở đầu Chƣơng 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu Chƣơng 2: Địa điểm, thời gian, phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Kết luận và khuyến nghị 2 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận Nông nghiệp, nông dân và nông thôn là cơ sở và là lực lƣợng chủ yếu để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, đảm bảo an ninh quốc phòng. Phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn để giữ gìn, phát huy văn hóa bản sắc dân tộc và BVMT sinh thái của đất nƣớc.
Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa, dƣới tác động của các xu hƣớng hợp tác và cạnh tranh ngày càng gay gắt, cùng với những tác động ngày càng to lớn của thiên nhiên đã ảnh hƣởng tiêu cực, đe dọa đời sống con ngƣời. “Tam nông” ở nƣớc ta đang bộc lộ những yếu điểm cần phải đƣợc khắc phục, đó là: nông nghiệp phát triển kém bền vững (tốc độ tăng trƣởng có xu hƣớng giảm dần, chƣa phát huy tốt nguồn lực cho phát triển sản xuất, nghiên cứu chuyển giao công nghệ còn hạn chế…); kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội còn yếu kém; môi trƣờng ngày càng bị ô nhiễm; sự suy giảm ĐDSH ngày càng nghiêm trọng; đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao. Để thực hiện thành công nghiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn, Chính phủ Việt Nam đã nêu rõ mục tiêu cụ thể là: không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cƣ nông thôn, xây dựng nền nông nghiệp hiện đại và xây dựng “nông thôn mới”. Quy hoạch xây dựng NTM nhằm PTNT bền vững, nâng cao chất lƣợng cuộc sống của ngƣời dân xét trên cả khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trƣờng, đồng thời thu hẹp khoảng cách phát triển, mất cân đối giữa thành thị và nông thôn.
Nội dung của PTNT bền vững bao gồm 4 quá trình: công nghiệp hóa - hiện đại hóa; đô thị hóa; kiểm soát dân số; BVMT, sinh thái. Phát triển kinh tế nông thôn, cuộc sống sung túc của nông dân, có nền sản xuất nông nghiệp bền vững đồng thời bảo vệ đƣợc các HST, ĐDSH và cảnh quan truyền thống của mỗi vùng quê thì QHST (ecological planning), xây dựng làng sinh thái (ecovillage) là giải pháp hiệu quả, có tính thực tiễn cao và bƣớc đầu đã đem lại nhiều thành công đáng khích lệ. Thực trạng của vấn đề nghiên cứu 1. Trên Thế giới Việc tiến hành quy hoạch xây dựng PTNT ở các nƣớc tiên tiến trên Thế giới đƣợc chú trọng từ lâu, trong đó QHMT là bắt buộc cùng với nhiệm vụ QHST cảnh quan, QHSDĐ và bảo tồn ĐDSH tại địa phƣơng.
Ở các nƣớc phƣơng Tây, quy hoạch xây dựng PTNT đƣợc hiểu là xây dựng làng sinh thái nhằm nâng cao chất lƣợng sống cộng đồng dân cƣ nông thôn. 3 “Làng sinh thái” (ecovillage) xuất hiện đầu tiên vào năm 1991 do Robert Gilmans - ngƣời đã định hình một số yếu tố cần cho một làng sinh thái, gồm: quy mô dân số phù hợp, có những điều kiện cơ bản để có thể định cƣ lâu dài, có những hoạt động của con ngƣời trong đó là vô hại và đƣợc lồng ghép với thế giới tự nhiên là nơi có môi trƣờng lành mạnh với sức khỏe con ngƣời và có thể duy trì, phát triển lâu dài trong tƣơng lai bất định. Năm 1971, Hội nghị Quốc tế tại Stockholm (Thụy Điển) đã phân biệt rõ tăng trƣởng kinh tế với phát triển kinh tế. Một ngành kinh tế đƣợc coi là phát triển khi gia tăng kinh tế không làm suy thoái môi trƣờng.
Nếu gia tăng kinh tế dù rất mạnh nhƣng làm ảnh hƣởng xấu đến môi trƣờng thì cũng chỉ đƣợc coi là gia tăng kinh tế chứ không đƣợc coi là phát triển kinh tế vì hầu hết sự gia tăng kinh tế đều có tác động xấu đến môi trƣờng. Danh từ “phát triển” chỉ rõ sự gia tăng của cải vật chất gắn liền với cân bằng sinh thái, từ đó hình thành khái niệm sinh thái phát triển, QHST và mở rộng ra mọi hoạt động kinh tế gọi là kinh tế sinh thái. Bƣớc đầu tiên trong xây dựng làng sinh thái là phải tiến hành quy hoạch từng vùng sinh thái và bảo vệ ĐDSH, đó cũng là cơ sở của mọi biện pháp ngăn ngừa ô nhiễm và các hành vi đầu độc môi trƣờng do con ngƣời gây ra [3]. Ngành nông nghiệp và nông thôn tại Mỹ Ngành nông nghiệp Mỹ đã phát triển thành một ngành “kinh doanh nông nghiệp”, một khái niệm đƣợc đặt ra để phản ánh bản chất tập đoàn lớn của nhiều doanh nghiệp nông nghiệp trong nền kinh tế Mỹ hiện đại.
Kinh doanh nông nghiệp bao gồm rất nhiều doanh nghiệp nông nghiệp và các cơ cấu trang trại đa dạng, từ các doanh nghiệp nhỏ một hộ gia đình cho đến các tổ hợp rất lớn hoặc các công ty đa quốc gia sở hữu những vùng đất đai lớn hoặc sản xuất hàng hóa và nguyên vật liệu cho nông dân sử dụng. Cũng giống nhƣ một doanh nghiệp công nghiệp tìm cách nâng cao lợi nhuận bằng việc tạo ra quy mô lớn hơn và hiệu quả hơn, nhiều nông trại Mỹ cũng ngày càng có quy mô lớn hơn và củng cố hoạt động của mình sao cho linh hoạt hơn. Sự ra đời ngành kinh doanh nông nghiệp vào cuối thế kỷ XX đã tạo ra ít trang trại hơn, nhƣng quy mô các trang trại thì lớn hơn nhiều. Đôi khi đƣợc sở hữu bởi những cổ đông vắng mặt, các trang trại mang tính tập đoàn này sử dụng nhiều máy móc hơn và ít bàn tay của nông dân hơn.
Hiện nay, trong cuộc sống hiện đại ồn ào, đầy sức ép, ngƣời Mỹ ở vùng đô thị hay ven đô hƣớng về những ngôi nhà thô sơ, ngăn nắp và những cánh đồng, phong cảnh miền quê truyền thống, yên tĩnh. Tuy nhiên, để duy trì “trang trại gia đình” và phong cảnh làng quê đó thực sự là một thách thức. Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm ” ở Nhật Bản 4 Từ thập niên 70 của thế kỷ trƣớc, ở tỉnh Oita (miền tây nam Nhật Bản) đã hình thành và phát triển phong trào “Mỗi làng một sản phẩm”, với mục tiêu phát triển vùng nông thôn của khu vực này một cách tƣơng xứng với sự phát triển chung của cả nƣớc Nhật Bản. Trải qua gần 30 năm hình thành và phát triển, Phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” ở đây đã thu đƣợc nhiều thắng lợi rực rỡ.
Sự thành công của phong trào này đã lôi cuốn sự quan tâm không chỉ của nhiều địa phƣơng trên đất nƣớc Nhật Bản mà còn rất nhiều khu vực, quốc gia khác trên thế giới. Một số quốc gia, nhất là những quốc gia trong khu vực Đông Nam Á đã thu đƣợc những thành công nhất định trong PTNT của đất nƣớc mình nhờ áp dụng kinh nghiệm phong trào “Mỗi làng một sản phẩm” [40]. Xây dựng NTM ở Trung Quốc Trung Quốc luôn coi trọng các chính sách dành cho Tam nông. Nguồn kinh phí xây dựng NTM tập trung từ nguồn ngân sách nhà nƣớc và địa phƣơng, một phần của dân và huy động các nguồn lực xã hội khác.
Việc thực hiện xây dựng NTM linh hoạt, dựa trên quy hoạch tổng thể (ngân sách nhà nƣớc và địa phƣơng). Căn cứ tình hình cụ thể ở các địa phƣơng, đặc điểm tự nhiên, xã hội, để đƣa ra chính sách, biện pháp thích hợp. Ngân sách nhà nƣớc chủ yếu dùng làm đƣờng, công trình thủy lợi…, một phần dùng để xây nhà ở cho dân. Công cuộc cải cách nông thôn của Trung Quốc qua nhiều dấu mốc: xóa bỏ công xã nhân dân; xác lập thể chế kinh doanh hai tầng kết hợp, lấy kinh doanh bao thầu gia đình làm cơ sở; mở cửa toàn diện thị trƣờng nông sản; xóa bỏ thuế nông nghiệp, và thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân.
Trung Quốc thực hiện nội dung hai mở, một điều chỉnh, là mở cửa giá thu mua, thị trƣờng mua bán lƣơng thực; một điều chỉnh là chuyển từ trợ cấp gián tiếp qua lƣu thông thành trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lƣơng thực. Đối với chuyển đổi mục đích sử dụng đất thì hạn chế lấy vào đất nông nghiệp, vấn đề thu hồi đất nông nghiệp của nƣớc này đƣợc quy định rất ngặt nghèo. Nếu chuyển đổi mục đích sử dụng đất, phải đúng với chiến lƣợc lâu dài của vùng đó và phải nằm trong chỉ giới đỏ, đảm bảo cả nƣớc luôn duy trì 1,8 tỷ mẫu đất nông nghiệp trở lên. Định hƣớng phát triển tài chính hỗ trợ tam nông ở Trung Quốc là nông nghiệp hiện đại, nông thôn đô thị hóa và nông dân chuyên nghiệp hóa.
Để tăng thu nhập cho nông dân, Trung Quốc tăng đầu tƣ hỗ trợ về giá mua giống, hỗ trợ thu mua lƣơng thực không thấp hơn giá thị trƣờng, mua máy móc thiết bị nông nghiệp và vốn. Cùng đó, Trung Quốc tập trung xây dựng cơ chế hƣớng nghiệp, đào tạo kỹ năng làm việc, đặc biệt là lao động trẻ. PTNT ở Thái Lan 5 Thái Lan vốn là một nƣớc nông nghiệp truyền thống với dân số nông thôn chiếm khoảng 80% dân số cả nƣớc. Để thúc đẩy sự PTBV nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lƣợc nhƣ: Tăng cƣờng vai trò của cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp; đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn; tăng cƣờng công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp; giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo hiểm rủi ro cho nông dân.
Chính phủ hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp với các hình thức: tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, phân bổ khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách khoa học và hợp lý, phục hồi những khu vực mà tài nguyên đã bị suy thoái; giải quyết mâu thuẫn liên quan đến việc sử dụng tài nguyên, ĐDSH, phân bổ đất canh tác [40]. Phong trào Làng mới ở Hàn Quốc Cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, GDP bình quân đầu ngƣời của Hàn Quốc chỉ có 85 USD; phần lớn ngƣời dân không đủ ăn; 80% dân nông thôn không có điện thắp sáng và phải dùng đèn dầu, sống trong những căn nhà lợp bằng lá. Là nƣớc nông nghiệp trong khi lũ lụt và hạn hán lại xảy ra thƣờng xuyên, mối lo lớn nhất của chính phủ khi đó là làm sao đƣa đất nƣớc thoát khỏi đói, nghèo.