CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC PHƯƠNG THỨC TIẾP CẬN NGƯỜI NGHÈO TRONG TÀI CHÍNH VI MÔ VÀ PHƯƠNG THỨC TIẾP CẬN NGƯỜI NGHÈO CỦA NHCSXH VIỆT NAM. Xuất phát từ các đặc trưng về tín dụng, đối tượng cho vay, mục đích và cách thức cho vay, NHCSXH đang cung cấp các dịch vụ tài chính vi mô cho đối tượng là hộ nghèo, các đối tượng chính sách theo quy định của Chính phủ, qua đó thể hiện rõ mình có hoạt động như một tổ chức tài chính vi mô (TCVM). NHCSXH chỉ áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống một phương thức cho vay duy nhất đối với Chương trình cho hộ nghèo vay vốn và một số chương trình trọng tâm khác (cho vay giải quyết việc làm, cho học sinh-sinh viên vay vốn) là thực hiện cho vay thông qua uỷ thác cho các tổ chức chính trị và các tổ TK&VV; trong đó tổ chức và hoạt động của các tổ TK&VV có nhiều đặc trưng dựa trên nền tảng phương thức cho vay theo nhóm của ngân hàng Grameen (Bangladesh). Do vậy, đề tài tập trung vào phân tích phương thức cho vay theo nhóm của ngân hàng Grameen.
Các nội dung này thuộc phạm vi nghiên cứu của tài chính vi mô, nên khái niệm về người nghèo trong đề tài này là khái niệm về người nghèo theo định nghĩa của TCVM và sử dụng các nghiên cứu về tài chính vi mô. Chương này cung cấp các cơ sở lý luận về các phương thức tiếp cận người nghèo trong tài chính vi mô và tập trung vào lĩnh vực tín dụng, các cơ sở lý luận này làm cơ sở cho việc phân tích phương thức tiếp cận người nghèo của NHCSXH và làm nền tảng để phát triển khung phân tích được đề cập trong chương tiếp theo. Tài chính vi mô và tác động của tài chính vi mô đến quá trình giảm nghèo: 1.1 Khái niệm về tài chính vi mô: TCVM là một dạng của dịch vụ tài chính ngân hàng, liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ tài chính cơ bản như tín dụng, các khoản tiết kiệm, hợp đồng cho thuê, cung cấp tài chính hợp lý , cơ chế bảo hiểm và gửi tiền qua ngân hàng, các tổ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chức phi chính phủ, các hợp tác tín dụng và tiết kiệm ở cả hai khu vực chính thức và phi chính thức (Jonathan, 1999). Theo ngân hàng phát triển Châu Á (ADB): tài chính vi mô là việc cung cấp các dịch vụ tài chính như tiền gửi, các khoản vay, dịch vụ thanh toán, bảo hiểm, chuyển tiền cho người nghèo hoặc các hộ gia đình có thu nhập thấp, những hoạt động kinh doanh cá thể hoặc các doanh nghiệp rất nhỏ.
Theo nghị định số 28/2005/NĐ-CP ngày 9/3/2005 và Nghị định 165/2007/NĐ-CP ngày 15/11/2007: Tài chính quy mô nhỏ: là hoạt động cung cấp một số dịch vụ tài chính ngân hàng nhỏ, đơn giản cho các hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp, đặc biệt là hộ gia đình nghèo và người nghèo. Dịch vụ tài chính, ngân hàng nhỏ, đơn giản gồm: tín dụng quy mô nhỏ, nhận tiền gửi tiết kiệm bắt buộc, tiết kiệm tự nguyện; một số dịch vụ thanh toán cho các hộ gia đình có thu nhập thấp. Tín dụng quy mô nhỏ: là khoản vay có giá trị nhỏ, có hoặc không có tài sản đảm bảo đối với hộ gia đình, cá nhân có thu nhập thấp để sử dụng vào các hoạt động tạo thu nhập và cải thiện điều kiện sống. Khách hàng tài chính quy mô nhỏ là các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp thõa mãn các tiêu chí theo quy định của tổ chức tài chính quy mô nhỏ trên cơ sở tham khảo theo chuẩn nghèo của Thủ tướng Chính phủ.
Khách hàng tài chính quy mô nhỏ có quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật và quy định của các tổ chức tài chính quy mô nhỏ. Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010: Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Nguyên nhân nghèo đói và người nghèo trong tài chính vi mô: 1.1 Nguyên nhân nghèo đói: Nghèo đói là hậu quả đan xen của nhiều yếu tố, tuy nhiên có thể phân chia đói nghèo nước ta thành 02 nhóm sau (Anh Huy, 2010): Nhóm nguyên nhân do bản thân người nghèo: - Thiến vốn: đây là một nguyên nhân chủ yếu nhất, có thể nói thiếu vốn là lực cản lớn nhất hạn chế sự phát triển sản xuất và nâng cao đời sống của hộ nghèo. - Thiếu kinh nghiệm và kiến thức trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh: sự hạn chế trong việc tiếp cận các kiến thức về sản xuất kinh doanh mới, thiếu kinh nghiệm đã dẫn đến hiệu quả sản xuất thấp và không hiệu quả.
- Bệnh tật và khả năng lao động (sức khỏe kém, tàn tật) cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng nghèo đói. - Quá nhiều người phụ thuộc, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo do thu nhập bị chia nhỏ. - Không có cơ hội tìm được việc làm phù hợp do hạn chế trình độ, kỹ năng và kỷ luật trong lao động. - Sự tự ty, mặc cảm hoặc chấp nhận xem như số phận về chính hoàn cảnh của mình.
Nhóm nguyên nhân xã hội: Đối với khu vực thành thị, do tính chuyên môn hóa cao và mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận nên khả năng đào thải lao động là khá cao, đặc biệt là lao động giản đơn như may mặc, công nhân các bộ phận chế biến sản phẩm (đơn giản). Ngoài ra còn do ảnh hưởng từ một số chính sách của nhà nước như cấm lưu thông xe ba bánh, giải tõa vĩa hè, chợ cũ,. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do vậy, người nghèo thường có những đặc tính sau: Người nghèo thường có những đặc điểm tâm lý và nếp sống khác so với những khách hàng khác thể hiện qua hai hình thức sau: người nghèo thường rụt rè, tự ti và phạm vi giao tiếp hẹp; hạn chế về khả năng nhận thức và kỹ năng sản xuất kinh doanh. Vì vậy người nghèo thường sản xuất theo thói quen, hạn chế trong trong tổ chức và phát triển hoạt động kinh doanh; hoặc trong nhiều trường hợp hoạt động kinh doanh hiện tại không thể mở rộng hoặc phát triển được như kinh doanh lấn chiếm lề đường, bán hàng rong, .chưa tạo được sản phẩm hàng hóa và đối tượng sản xuất kinh doanh thường thay đổi.
Phong tục tập quán và những truyền thống văn hóa củng hạn chế khả năng tiếp cận tín dụng của người nghèo. Các khoản vay của người nghèo thường không có tài sản thế chấp, phương án kinh doanh thường mang tính kinh nghiệm, phỏng đoán hoặc không phù hợp với luật định do vậy khó có khả năng tiếp cận tín dụng chính thức và các khoản vay nhỏ nên chi phí quản lý cao.2 Người nghèo trong tài chính vi mô: Đối tượng cho vay trong tài chính vi mô là người nghèo. Một đối tượng mà dưới góc nhìn của khu vực tài chính chính thức, mà cụ thể là các ngân hàng thương mại là nhóm người có đặc điểm sau: - Đối tượng cho vay có rủi ro tín dụng rất cao (tỷ lệ vỡ nợ rất cao). Họ là những người có thu nhập thấp, người nghèo, các nông dân không có tài sản thế chấp, thậm chí không có đất hay các phương tiện sản xuất.
- Khả năng tiết kiệm và khả năng trả nợ của họ không có hoặc rất hạn chế. Do vậy, người nghèo thường được cho là những người đáng thương và cần những sự giúp đỡ mang tính chất từ thiện nhiều hơn. Việc cho họ vay chỉ mang ý nghĩa phúc lợi và nhân đạo là chính chứ không được coi là đối tượng vay (khách hàng thực sự của tổ chức mình) một cách sòng phẳng. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Đồng thời đây là đối tượng cho vay có chi phí cấp xét tín dụng rất cao.
Với những quy trình cấp xét tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại, các hợp đồng tín dụng 5 tỷ và 10 tỷ thì các thủ tục cấp xét là như nhau, nhân viên ngân hàng có tâm lý và xu hướng muốn cho vay những khoản vay lớn nhằm tăng hiệu quả kinh tế theo quy mô, giảm thiểu chi phí thủ tục trên một đơn vị tiền cho vay. Điều này làm cho khu vực này “thờ ơ” trước những khoản vay vi mô (khoản vay nhỏ) cho các doanh nghiệp nông thôn quy mô nhỏ, các hộ gia đình thu nhập thấp, người nghèo, các nông dân không có đất thế chấp, làm cho các đối tượng này bị “bật ra” khỏi những cơ hội tiếp cận những dịch vụ tài chính (trong đó có các khoản tín dụng vi mô) để họ phát triển sản xuất, tạo thu nhập, cải thiện cuộc sống gia đình. Mặt khác, nhìn từ góc độ của người nghèo với các dịch vụ của khu vực tài chính chính thức, chúng ta thấy rằng, đối với họ khu vực tài chính chính thức có quá nhiều thủ tục rắc rối, cùng các thủ tục cấp xét, chấm điểm tín dụng nghiêm ngặt, yêu cầu thế chấp,… khiến cho họ không thể đáp ứng. Việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng phát triển kinh tế gia đình đối với họ gần như là không thể.
Theo các nhà lý thuyết kinh tế học thì “vòng luẩn quẩn nghèo đói” sẽ cứ đeo đuổi họ mãi cho tới khi nào họ nắm bắt được nguồn vốn sản xuất kinh doanh để tăng thu nhập. Thu nhập tăng sẽ dẫn tới tiết kiệm tăng và đời sống người dân được cải thiện. Với khoản tiết kiệm lớn hơn và khả năng tiếp cận tới các nguồn vốn được duy trì, người dân lại có thể tiếp tục mở rộng sản xuất, tăng thu nhập. Quá trình này sẽ đi theo một vòng xoáy với chiều hướng lên trên.
Nghĩa là đời sống của người dân sẽ tiếp tục tăng lên theo mỗi chu kỳ đầu tư và tiết kiệm như vậy, như vậy họ mới phá vỡ được cái vòng luẩn quẩn nêu trên, song với cơ chế hoạt động của khu vực tài chính chính thức như trên, cơ hội thoát nghèo của họ là rất khó khăn (Mạnh, 2009).3 Tác động của tài chính vi mô đến quá trình giảm nghèo: 1.1 Sự cần thiết phải hỗ trợ người nghèo: Hạn chế về khả năng tiếp cận các nguồn lực, trong đó có nguồn vốn được xem là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng đói nghèo ở Việt 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Trong lĩnh vực tín dụng, cũng như các dịch vụ khác, hộ nghèo luôn chịu thiệt thòi.