Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ Tiếp nhận tiểu thuyết Thủy hử ở Trung Quốc từ đầu thế kỷ XX đến nay của nghiên cứu sinh Nguyễn Phương Thảo, thuộc chuyên ngành Văn học nước ngoài (mã số: 62.45), được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Trần Đình Sử và PGS. Nguyễn Thị Mai Chanh tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2018).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, văn bản luận án xác định Thủy hử là tác phẩm có quy mô lớn và tiêu biểu nhất về đề tài khởi nghĩa nông dân trong lịch sử văn học Trung Quốc, được xếp vào hàng "tứ đại kỳ thư". Kể từ khi ra đời vào khoảng thế kỷ XIV đến nay, lịch sử tiếp nhận tác phẩm tồn tại nhiều cách đánh giá, bình luận khác biệt, thậm chí trái ngược nhau. Trước thế kỷ XX, việc tiếp nhận chủ yếu dừng lại ở bình điểm truyền thống (tiêu biểu là Kim Thánh Thán, Lý Trác Ngô) nhằm đề cao nghệ thuật miêu tả nhân vật và phê phán hiện thực, nhưng chưa định hình các phương pháp nghiên cứu mang tính hệ thống. Từ đầu thế kỷ XX đến nay, tiếp nhận Thủy hử tại Trung Quốc có sự chuyển biến rõ rệt khi kết hợp giữa lý luận phương Tây và truyền thống bản địa, trải qua các giai đoạn từ đa nguyên, độc tôn đến khai phóng và liên ngành. Ở Việt Nam, sau giai đoạn Đổi mới (1986), lý thuyết tiếp nhận văn học được triển khai rộng rãi, đặt ra nhu cầu nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về lịch sử tiếp nhận Thủy hử ngay tại chính quốc để phục vụ công tác nghiên cứu, dịch thuật và giảng dạy văn học Trung Quốc.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án được xác định gồm 5 nội dung:
- Tìm hiểu một số vấn đề về lý thuyết tiếp nhận.
- Tìm hiểu hoàn cảnh, cách thức, xu hướng tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc qua các thời kỳ lịch sử.
- Nghiên cứu, đánh giá, phân tích, thống kê, tổng hợp, lý giải nhằm nhận diện một cách cơ bản, tổng quát và cụ thể về tình hình tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc (tiếp nhận trên các phương diện tác giả, văn bản, tác phẩm, nội dung, nghệ thuật và các xu hướng, cách thức tiếp nhận).
- Tập trung làm sáng tỏ những ý kiến, nhận định, đánh giá, tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc.
- Đưa ra một số so sánh, nhận định về tình hình tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc và Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của luận án bao gồm lý thuyết tiếp nhận, định hướng vận dụng lý thuyết tiếp nhận và việc nghiên cứu "sự nghiên cứu", tiếp nhận tiểu thuyết Thủy hử ở Trung Quốc qua các giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến nay.
Phạm vi nghiên cứu bao gồm: nhận diện lý thuyết tiếp nhận; văn bản tác phẩm Thủy hử (nguyên tác và bản dịch); lịch sử nghiên cứu và tiếp nhận Thủy hử qua các nguồn tư liệu (công trình của học giả Trung Quốc, tài liệu Trung Quốc dịch tại Việt Nam, công trình nghiên cứu và giáo trình của học giả Việt Nam, công trình chọn lọc của học giả nước ngoài và tư liệu mạng Internet). Phạm vi khảo sát được giới hạn tập trung trong lĩnh vực phê bình - nghiên cứu văn học.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan các hướng nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn tiếp nhận Thủy hử trên ba khu vực địa lý - học thuật:
Tại Âu - Mỹ, lý thuyết tiếp nhận hình thành vào những năm 1960 tại Đức với trường phái Konstanz, tiêu biểu là Hans Robert Jauss và Wolfgang Iser. Các công trình tiêu biểu gồm: Indeterminacy and the Reader's response in Prose Fiction, The Act of Reading của W. Iser; Aesthetic Experience and Literary Hermeneutics, Toward an Aesthetic of Reception của H. Jauss; cùng các khảo cứu của Robert C. Holub (1984), Dan Shen và Xiaoyi Zhou (2006), Susan R. Suleiman, Inge Crosman, Umberto Eco, I.A. Richards, Louise M. Rosenblatt. Về tiếp nhận Thủy hử, các học giả phương Tây tập trung vào chủ đề tư tưởng, tác dụng xã hội và so sánh văn hóa Đông - Tây: C.T. Hsia (Hạ Chí Thanh) trong Trung Quốc cổ điển tiểu thuyết đạo luận cho rằng tinh thần phản kháng của hảo hán Lương Sơn chỉ là khát vọng trả thù và phản ánh mặt tối trong thế giới tinh thần; Timothy C. Wong (1966) chỉ ra sự mâu thuẫn giữa hành vi tàn bạo với khái niệm "Nghĩa"; Bill Jenner nhận định các hành vi bạo lực gây tổn hại xã hội; Andrew H. Plaks (1993) trong Tứ đại kỳ thư của tiểu thuyết đời Minh đặt nghi vấn về tính cách các nhân vật Võ Tòng, Lý Quỳ, Tống Giang; trong khi Richard Wilhelm (Vệ Lễ Hiền) đánh giá tác phẩm thể hiện tinh thần phản kháng bất công của nhân dân.
Tại Trung Quốc, mỹ học tiếp nhận được giới thiệu từ năm 1983 qua bài dịch của Phùng Hán Tân và bài viết của Trương Lê; sách dịch của Chu Ninh, Kim Nguyên Phố (1987); các công trình của Khổng Dương (1988), Hồ Kinh Chi, Trương Thủ Ánh (1989), Chu Lập Nguyên (1989), Mã Dĩ Hâm (1995), Vương Triệu Bằng và Thượng Vĩnh Lượng (2006). Việc ứng dụng lý thuyết tiếp nhận vào văn học Trung Quốc được triển khai qua các công trình của Vương Vệ Bình (1994), Mã Dĩ Hâm (1998), Trần Văn Trung (1998), Học Phong, Thường Bảo, Quách Anh Đức (2000). Riêng về Thủy hử, tác giả Cao Nhật Huy đã công bố 3 bài nghiên cứu về tiếp nhận tác phẩm thời Minh, thời Thanh và qua bản bình điểm Dung Dữ Đường (2002, 2004, 2005).
Tại Việt Nam, lý thuyết tiếp nhận được tiếp cận từ bài viết của Nguyễn Văn Hạnh (1971), bản dịch bài viết của Manfred Naumann do Huỳnh Vân thực hiện (1978), công trình của Nguyễn Văn Dân (1985, 1991), bài viết của Nguyễn Lai (1990), Nguyễn Thanh Hùng (1990), Trần Đình Sử (1991, 1999), các bản dịch và nghiên cứu của Trương Đăng Dung (1999, 2001, 2002, 2004), sách chuyên khảo của Trần Thái Học (2014). Về văn bản Thủy hử, Thúc Ngọc Trần Văn Giáp (1942) từng khảo cứu vấn đề tác giả trên tạp chí Thanh nghị.
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Xây dựng một công trình nghiên cứu chuyên biệt, có hệ thống về toàn bộ lịch sử tiếp nhận tiểu thuyết Thủy hử ở Trung Quốc trong suốt thế kỷ XX cho đến nay; phân tích sự vận động của các khuynh hướng tiếp nhận gắn liền với các biến chuyển lịch sử - xã hội, văn hóa và học thuật; từ đó làm rõ sự chuyển dịch từ hệ hình tiếp nhận truyền thống sang hiện đại và đương đại.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết tiếp nhận văn học (Mỹ học tiếp nhận của trường phái Konstanz) làm cơ sở lý luận nền tảng. Các khái niệm công cụ được sử dụng gồm:
- Người đọc: Chủ thể tiếp nhận giữ vai trò trung tâm trong mối quan hệ ba chiều: tác giả - tác phẩm - người đọc; chuyển hóa văn bản thành tác phẩm sống động thông qua quá trình tri giác, liên tưởng và cắt nghĩa.
- Tầm đón nhận / Chân trời chờ đợi (Erwahrtungshorizont): Trình độ, kinh nghiệm đọc có trước của độc giả dựa trên hiểu biết về thể loại, đề tài, hình thức tác phẩm và các định kiến văn học bị ràng buộc bởi yếu tố lịch sử, thời gian. Luận án cũng dẫn giải kiến giải của Phùng Kiên về cách hiểu thuật ngữ này là "giới hạn tiếp nhận".
- Kinh nghiệm thẩm mỹ và Khoảng cách thẩm mỹ: Quá trình tiếp thu văn bản tạo ra khoảng cách giữa sự mong đợi của người đọc và tính chất mới lạ của văn bản nghệ thuật.
Phương pháp nghiên cứu thực tế thuộc hướng nghiên cứu định tính và lịch sử - phê bình văn học, kết hợp các phương pháp cụ thể:
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Hệ thống hóa các nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu lịch sử vấn đề và các giai đoạn tiếp nhận, khảo sát có hệ thống các quan điểm, đánh giá về tác phẩm.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Đi sâu nghiên cứu tác phẩm về mặt văn bản, tác giả, nội dung, nghệ thuật, kết cấu; tổng hợp các xu hướng tiếp nhận theo từng giai đoạn lịch sử.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh, đối chiếu các công trình nghiên cứu, dịch thuật Thủy hử trong và ngoài nước (giữa Trung Quốc với Việt Nam, các nước đồng văn Đông Á và phương Tây).
- Phương pháp liên ngành: Sử dụng tự sự học và loại hình học làm nền tảng, kết hợp với xã hội học văn học, văn hóa học, ký hiệu học, liên văn bản để khảo sát tác phẩm trong sự tương tác với điện ảnh, âm nhạc, hội họa.
Nguồn tư liệu bao gồm 5 nhóm: các công trình chuyên khảo, bài báo học thuật của học giả Trung Quốc; tài liệu nghiên cứu Trung Quốc được dịch tại Việt Nam; công trình nghiên cứu, giáo trình của học giả Việt Nam; tài liệu nghiên cứu chọn lọc của học giả phương Tây; và tư liệu tra cứu từ mạng Internet.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Chương 1 trình bày cơ sở lý thuyết tiếp nhận văn học, lịch sử hình thành trường phái Konstanz (Đức) từ thập niên 1960 với các luận điểm của H.R. Jauss và W. Iser, cùng quá trình truyền bá lý thuyết này tại Âu - Mỹ, Trung Quốc và Việt Nam.
Về địa vị của Thủy hử và lịch sử tiếp nhận trước thế kỷ XX:
- Địa vị và nội dung tác phẩm: Tác phẩm mang quy mô tiêu biểu về khởi nghĩa nông dân, nêu cao tư tưởng "Thế thiên hành đạo", thay đổi biển hiệu "Tụ nghĩa đường" thành "Trung nghĩa đường", đưa chuẩn mực Trung - Nghĩa lên vị trí tối thượng. Về tác giả, luận án điểm lại các thuyết: Thi Nại Am (1296-1370?), La Quán Trung, hoặc Thi Nại Am soạn và La Quán Trung tu chỉnh (theo ghi chép của Hồ Ứng Lân, Lang Anh, Lý Trác Ngô, Trần Văn Giáp).
- Vấn đề văn bản: Khảo sát các bản in lịch sử như bản 100 hồi thời Gia Tĩnh, bản khắc Dung Dữ Đường năm Vạn Lịch thứ 38 (1610), bản 120 hồi Viên Vô Nhai năm Vạn Lịch thứ 42 (1614), bản Quán Hoa Đường 70 hồi của Kim Thánh Thán năm Sùng Trinh thứ 14 (1641 - lược bỏ phần chiêu an và đánh Liêu). Điểm luận các nghiên cứu văn bản của Lưu Thế Đức về Kinh bản trung nghĩa truyện (xác định là giản bản), Viên Thế Thạc về tổ bản đời Nguyên, cùng các khảo sát của Trúc Thanh, Lý Vĩnh Hỗ.
- So sánh bình luận của Lý Trác Ngô và Kim Thánh Thán: Hai nhà phê bình có 3 điểm tương đồng (đều phân tích 70 hồi sau, dùng tiêu chuẩn đạo đức đánh giá nhân vật, vận dụng nguyên tắc thẩm mỹ dựa trên thuyết "đồng tâm"), nhưng có sự đối lập về quan điểm cụ thể:
| Tiêu chí so sánh |
Lý Trác Ngô (Lý Chí) |
Kim Thánh Thán |
| Động cơ sáng tác |
Phát phẫn tác thư (Tức giận mà viết sách) |
Tâm nhàn lộng bút (Nhàn tâm phóng bút) |
| Tư tưởng chủ đề |
Trung nghĩa |
Trừ khấu diệt đạo |
| Đánh giá nhân vật Lương Sơn |
Đại lực đại hiền |
Sài lang hổ báo |
| Đánh giá Tống Giang |
Giả đạo học chân cường đạo |
Giả trung ngụy hiếu |
Chương 2: Tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc từ đầu thế kỷ XX đến năm 1949
Chương 2 phân tích sự hình thành lớp người đọc mới dưới tác động của bối cảnh lịch sử biến động (Chiến tranh Nha phiến 1840, Thái Bình Thiên Quốc, Duy Tân Mậu Tuất 1898, Tân Hợi 1911 và phong trào Tân văn hóa Ngũ Tứ 1919) cùng sự truyền bá các tư tưởng phương Tây (dân chủ, tiến hóa luận, thực chứng luận, chủ nghĩa Marx).
Các khuynh hướng tiếp nhận chính trong giai đoạn này:
- Tiếp nhận dưới nguồn sáng Tân văn hóa: Hồ Thích công bố Thủy hử truyện khảo chứng (1920), áp dụng phương pháp thực chứng và tiến hóa luận để khảo cứu văn bản, chỉ trích bản bình 70 hồi của Kim Thánh Thán là bóp méo nguyên tác. Trần Độc Tú, Tạ Vô Lượng, Tạ Văn tiếp cận từ lý thuyết đấu tranh giai cấp, xem tác phẩm phản ánh mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ. Chu Tác Nhân đứng từ góc độ nhân tính luận phương Tây nhận định Thủy hử là "văn học phi nhân tính".
- Tiếp cận từ góc độ xã hội học: Tát Mạnh Vũ xuất bản Thủy hử và xã hội Trung Quốc (1934), phân tích các yếu tố kinh tế, tiền tệ, thể chế qua câu chuyện Sinh Thần Cương, nguyên nhân lưu hành Phật giáo qua chùa Văn Thù núi Ngũ Đài, và nhìn nhận mối quan hệ Phan Kim Liên - Tây Môn Khánh dưới góc độ quyền tự do hôn nhân trong xã hội hiện đại. Các nghiên cứu liên ngành khác gồm khảo cứu lịch sử của Lý Văn Trị, La Nhĩ Cương, Tạ Hưng Nghiêu.
- Tiếp nhận trong thời kỳ kháng Nhật (1937-1945): Xuất hiện sự phân hóa thành hai ngã rẽ chính trị:
- Khu vực Quốc dân đảng (Quốc thống khu): Tiếp nhận qua các tiểu thuyết tục thư, phóng tác như Thủy hử trung truyện của Khương Hồng Phi (1938) nhằm mục đích dùng văn nghệ phục vụ kháng chiến.
- Khu vực Đảng Cộng sản (Giải phóng khu): Tiếp nhận qua các vở kịch cải biên phục vụ tuyên truyền cách mạng như Phan Kim Liên, Lâm Xung dạ bôn, Tam đả Chúc Gia Trang.
- Phương thức truyền bá văn bản: Sự phát triển của kỹ thuật in thạch bản và in kẽm (in chữ chì) tại Thượng Hải. Thống kê trong luận án ghi nhận đến năm 1973 có 48 bản Thủy hử 72 hồi được phát hành (tiêu biểu là bản Cú khúc ngoại sử tự, bản Vương Sĩ Vân bình, bản Yên Nam Thượng Sinh 1908, Hứa Khiếu Thiên 1927, Đặng Cuồng Ngôn 1929).
Chương 3: Tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc từ năm 1949 đến 1980
Chương 3 phân tích sự chuyển dịch của tiếp nhận Thủy hử từ mô hình đa nguyên sang nhất nguyên, lấy hệ thống lý luận Mác-xít, thuyết phản ánh duy vật và phương pháp phân tích giai cấp làm chuẩn mực giải mã chủ đạo.
Các nội dung và khuynh hướng tiếp nhận cụ thể:
- Hệ thống 5 luận thuyết về chủ đề: Giới nghiên cứu tập trung tranh luận xung quanh 5 thuyết:
- Thuyết "Khởi nghĩa nông dân": Xem tác phẩm là bản anh hùng ca ca ngợi chiến tranh cách mạng nông dân chống phong kiến.
- Thuyết "Chủ nghĩa đầu hàng": Quy kết kết cục chiêu an và việc đánh Phương Lạp là biểu hiện của sự thỏa hiệp, phản bội giai cấp.
- Thuyết "Thị dân": Đại diện bởi Y Vĩnh Văn, Âu Dương Kiện, Tiêu Tương Khải (Thủy hử tân nghị), cho rằng tác phẩm không viết về chiến tranh nông dân mà phản ánh lợi ích, nguyện vọng của tầng lớp thị dân và hào kiệt lục lâm.
- Thuyết "Du dân": Xem tác phẩm phản ánh ý thức và lối sống của tầng lớp du dân phiêu bạt.
- Thuyết "Đấu tranh trung nghĩa": Đại diện bởi Lưu Liệt Mậu, Tôn Nhất Trân, cho rằng trục tư tưởng xuyên suốt là cuộc đấu tranh giữa trung nghĩa và gian tà.
- Các công trình nghiên cứu tiêu biểu: Hà Tâm công bố Nghiên cứu Thủy hử (1954) - chuyên khảo đầu tiên sau năm 1949 tổng hợp tư liệu tác giả, văn bản; Trương Chính Lãng viết Nghiên cứu về Tống Giang (1953); Trần Trung Phàm nghiên cứu niên đại thành sách (1956); bộ Trung Quốc văn học sử của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (thập niên 1960) khẳng định tác phẩm bắt nguồn từ khởi nghĩa nông dân cuối đời Nguyên.
- Khuynh hướng xã hội học cực đoan và giai đoạn Cách mạng Văn hóa (1966-1976): Chính trị kiểm soát hoàn toàn hoạt động nghiên cứu học thuật. Vào mùa hè năm 1975, Mao Trạch Đông phát động phong trào "Bình Thủy hử, phê Tống Giang", tạo ra hiện tượng "phản tiếp nhận" mang tính quy chụp chính trị, biến tác phẩm thành công cụ đấu tranh tư tưởng, phê phán Tống Giang là phần tử đầu hàng nội bộ phá hoại phong trào nông dân.
Chương 4: Tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc từ năm 1980 đến nay
Chương 4 khảo sát giai đoạn sau cải cách mở cửa, tư tưởng học thuật chuyển từ "phản tỉnh" sang "khai phóng", khôi phục tính độc lập khoa học và mở rộng các hướng tiếp cận mới:
- Khuynh hướng nghiên cứu mỹ học và văn hóa học truyền thống:
- Nghiên cứu văn hóa giang hồ và ý thức du dân: Vương Học Thái phân tích khái niệm "giang hồ", không gian sinh hoạt của tầng lớp du dân phân biệt với tầng lớp tông pháp chính thống.
- Nghiên cứu ba hình thái ý thức Nho - Đạo - Phật: Trương Đồng Thắng trong Thủy hử truyện thuyên thích sử luận phân tích tác phẩm dưới góc độ văn hóa tôn giáo, chỉ ra tinh thần "giải thiêng" Nho giáo khi triều đình mất tính chính danh, đồng thời nhận định mô hình Lương Sơn Bạc mang tính lưỡng phân, không thể trở thành khuôn mẫu lý tưởng trong thế giới tâm linh Nho giáo.
- Khuynh hướng tiếp nhận liên văn bản và văn hóa đại chúng:
- Điện ảnh và truyền hình: Khảo sát từ các phim câm hý khúc đầu thế kỷ XX (Diễm Dương lâu 1906, Thu quan thắng 1907, Nhất tiễn thù 1927, Thạch Tú sát tẩu 1927, Võ Tòng đại náo lầu Sư Tử 1928, Đại náo Ngũ Đài sơn 1929), phim màu hý khúc (Võ Tòng 6 tập năm 1963 của xưởng phim Phúc Đán), phim truyền hình Thủy hử của Đài Truyền hình Sơn Đông (1980), đến phim điện ảnh Bản sắc anh hùng Thủy hử (1992).
- Hội họa và tranh minh họa: Điểm lại tranh thời Tống của Lý Tung (Tống Giang tam thập lục nhân họa truyện), tranh thời Minh của Trần Hồng Thụ (Thủy hử diệp tử), Đỗ Cẩn (Thủy hử nhân vật toàn đồ), Đinh Vân Bằng (Lương Sơn điểm tướng lục), Vương Thành Chi và Từ Bính (Trung nghĩa Thủy hử truyện sáp đồ).
- Sự thiết chế hóa của ngành "Thủy hử học": Tổ chức các hội nghị toàn quốc lần thứ 3, thứ 4 và chính thức thành lập "Hội Thủy hử Trung Quốc" vào tháng 11/1987 tại Tương Phàn (Hồ Bắc), xác lập vị trí của "Thủy hử học" bên cạnh "Hồng học".
Bảng tổng hợp tiến trình tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc từ đầu thế kỷ XX đến nay:
| Giai đoạn |
Bối cảnh lịch sử - xã hội |
Khuynh hướng tiếp nhận chủ đạo |
Đại biểu / Công trình tiêu biểu |
| Đầu TK XX - 1949 |
Chiến tranh Nha phiến, phong trào Ngũ Tứ, chiến tranh chống Nhật |
Tân văn hóa, thực chứng luận, giai cấp luận sơ khai, xã hội học, chuyển thể kịch kháng chiến |
Hồ Thích (Thủy hử truyện khảo chứng), Tát Mạnh Vũ (Thủy hử và xã hội Trung Quốc), Chu Tác Nhân, Trần Độc Tú |
| 1949 - 1980 |
Thành lập nước CHND Trung Hoa, Cách mạng Văn hóa |
Nhất nguyên hóa, phản ánh luận Mác-xít, phân tích giai cấp, xã hội học cực đoan ("Bình Thủy hử, phê Tống Giang") |
Hà Tâm (Nghiên cứu Thủy hử), Trương Chính Lãng, Y Vĩnh Văn, phong trào phê phán Tống Giang (1975) |
| 1980 đến nay |
Cải cách mở cửa, hội nhập quốc tế |
Đa nguyên, mỹ học Chân - Thiện - Mỹ, văn hóa học truyền thống (Nho/Đạo/Phật, văn hóa giang hồ), liên văn bản, văn hóa đại chúng |
Vương Học Thái, Trương Đồng Thắng (Thủy hử truyện thuyên thích sử luận), thành lập Hội Thủy hử Trung Quốc (1987) |
Kết quả và những đóng góp mới
Văn bản luận án nêu rõ ba đóng góp mới về mặt khoa học:
- Góp phần giúp người đọc hình dung đầy đủ, có hệ thống lịch sử tiếp nhận và những vấn đề học thuật đặt ra trong công tác nghiên cứu Thủy hử tại Trung Quốc qua các thời kỳ.
- Xác định và luận giải những ý nghĩa tiếp nhận mới trong nghiên cứu Thủy hử ở Trung Quốc giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến nay, làm rõ sự tương tác giữa biến chuyển xã hội với cơ chế giải mã văn bản văn học.
- Gợi mở hướng nghiên cứu mới về văn học so sánh, mở rộng phạm vi đối chiếu việc nghiên cứu, tiếp nhận tác phẩm giữa các quốc gia cùng thuộc khu vực văn hóa chữ Hán (Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc) từ đầu thế kỷ XX, làm tiền đề mở rộng so sánh với các nước phương Tây.
Về mặt kiến nghị, giải pháp: Luận án đề xuất việc vận dụng lý thuyết tiếp nhận văn học như một công cụ phương pháp luận để tiếp tục khảo sát các danh tác cổ điển khác; đồng thời kiến nghị tăng cường dịch thuật các công trình nghiên cứu lý luận, chuyên khảo học thuật từ Trung Quốc và phương Tây nhằm nâng cao hiệu quả nghiên cứu, giảng dạy văn học nước ngoài tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu chỉ tập trung trong lĩnh vực phê bình - nghiên cứu văn học, chưa thể bao quát toàn diện các phương diện tiếp nhận khác như tiếp nhận trong giảng dạy nhà trường các cấp hoặc tiếp nhận trong toàn bộ các thể loại sáng tác phái sinh. Đồng thời, phần so sánh đối chiếu giữa tình hình tiếp nhận tại Trung Quốc và Việt Nam mới dừng lại ở những nhận định, đối sánh bước đầu.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, luận án gợi mở:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh việc tiếp nhận Thủy hử sang các quốc gia khác trong khu vực văn hóa đồng văn Đông Á (Nhật Bản, Hàn Quốc) và các nước phương Tây (Anh, Pháp, Nga, Mỹ).
- Đi sâu nghiên cứu sự chuyển hóa và tiếp nhận Thủy hử qua các phương tiện truyền thông mới, công nghiệp văn hóa và nghệ thuật đương đại.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn, Văn học nước ngoài, Hán học, Lý luận văn học và Văn học so sánh: Tham khảo phương pháp vận dụng lý thuyết tiếp nhận vào một trường hợp tác phẩm cụ thể.
- Giảng viên đại học: Sử dụng nguồn tư liệu phong phú về lịch sử văn bản, các trường phái bình điểm và các giai đoạn nghiên cứu Thủy hử để biên soạn bài giảng văn học Trung Quốc cổ trung đại và tiến trình hiện đại hóa học thuật Trung Quốc.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống tư liệu khảo chứng về lịch sử văn bản (Chương 1); các mô hình giải mã xã hội học và kịch nghệ thời kỳ 1900-1949 (Chương 2); việc phân tích 5 luận thuyết về chủ đề tác phẩm (Chương 3); và khảo sát liên văn bản qua điện ảnh, hội họa cùng các phân tích văn hóa tôn giáo Nho - Đạo - Phật (Chương 4).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia lịch sử tiếp nhận Thủy hử ở Trung Quốc từ đầu thế kỷ XX đến nay thành mấy giai đoạn chính?
Luận án phân chia thành 3 giai đoạn chính:
- Giai đoạn 1: Từ đầu thế kỷ XX đến năm 1949 (thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa).
- Giai đoạn 2: Từ năm 1949 đến năm 1980 (trọng tâm từ 1949 đến hết Cách mạng Văn hóa 1976 và giai đoạn chuyển tiếp đến 1980).
- Giai đoạn 3: Từ năm 1980 đến nay (thời kỳ cải cách khai phóng và phát triển liên ngành).
2. Hai nhà phê bình Lý Trác Ngô và Kim Thánh Thán có những điểm đối lập nào khi bình luận Thủy hử?
Theo Chương 1 của luận án: Lý Trác Ngô cho rằng tác giả "phát phẫn tác thư", chủ đề là "trung nghĩa", nhân vật Lương Sơn là "đại lực đại hiền", Tống Giang là "giả đạo học chân cường đạo". Ngược lại, Kim Thánh Thán cho rằng tác giả "tâm nhàn lộng bút", chủ đề là "trừ khấu diệt đạo", nhân vật Lương Sơn là "sài lang hổ báo", Tống Giang là "giả trung ngụy hiếu".
3. Công trình "Thủy hử và xã hội Trung Quốc" (1934) của Tát Mạnh Vũ giải mã tác phẩm dưới góc độ nào?
Tát Mạnh Vũ tiếp cận Thủy hử từ góc nhìn xã hội học, sử dụng tác phẩm để làm rõ các vấn đề kinh tế - xã hội cổ đại Trung Quốc như: hào tộc, sĩ nhân, tiền tệ, thương nghiệp, quan chế. Tác giả giải mã ý nghĩa xã hội của việc cướp Sinh Thần Cương, nguyên nhân phổ biến của Phật giáo qua chùa Văn Thù núi Ngũ Đài, và nhìn nhận mối quan hệ Phan Kim Liên - Tây Môn Khánh như biểu hiện của quyền tự do hôn nhân trong góc nhìn xã hội hiện đại.
4. Năm luận thuyết chính về chủ đề Thủy hử được tranh luận trong giai đoạn 1949-1980 là gì?
Giai đoạn này ghi nhận 5 luận thuyết chính về chủ đề: (1) Thuyết "Khởi nghĩa nông dân"; (2) Thuyết "Chủ nghĩa đầu hàng"; (3) Thuyết "Thị dân" (tiêu biểu là Y Vĩnh Văn, Âu Dương Kiện, Tiêu Tương Khải); (4) Thuyết "Du dân"; (5) Thuyết "Đấu tranh trung nghĩa" (tiêu biểu là Lưu Liệt Mậu, Tôn Nhất Trân).
5. "Hội Thủy hử Trung Quốc" được thành lập vào thời gian và địa điểm nào?
Theo số liệu trong Chương 4 của luận án, "Hội Thủy hử Trung Quốc" được chính thức thành lập vào tháng 11 năm 1987 tại thành phố Tương Phàn, tỉnh Hồ Bắc, đánh dấu sự thiết chế hóa của ngành "Thủy hử học" tại Trung Quốc.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Phương Thảo đã vận dụng mỹ học tiếp nhận để phục dựng bức tranh lịch sử nghiên cứu Thủy hử tại Trung Quốc từ đầu thế kỷ XX đến nay. Công trình làm rõ sự chuyển biến từ lối bình điểm truyền thống sang các mô hình tiếp cận hiện đại dưới ánh sáng của phong trào Ngũ Tứ, giai đoạn độc tôn giai cấp luận thời kỳ 1949-1976, cho đến xu hướng đa nguyên, liên ngành và giải thiêng văn hóa từ sau năm 1980. Luận án cung cấp hệ thống tư liệu học thuật giá trị cho chuyên ngành Văn học nước ngoài, hỗ trợ việc tiếp cận các tác phẩm cổ điển Đông Á dưới góc độ vận động của ngữ cảnh xã hội và vai trò chủ thể của người đọc.