Luận Văn Thạc Sĩ Về Tiếp Nhận Kịch Molière Ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ussh tiếp nhận kịch molière ở việt nam, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Văn học nước ngoài

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

106
5
1

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lí do chọn đề tài

0.2. Lịch sử vấn đề

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Mục đích nghiên cứu

0.6. Cấu trúc luận văn

1. CHƯƠNG 1: TIẾP NHẬN KỊCH MOLIÈRE Ở VIỆT NAM TỪ GÓC NHÌN DỊCH THUẬT

1.1. Việc dịch thuật kịch Molière từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945

1.2. Việc dịch thuật kịch Molière từ năm 1945 – 1975

1.3. Việc dịch thuật kịch Molière từ sau 1975 đến nay

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: TIẾP NHẬN KỊCH MOLIÈRE TỪ GÓC NHÌN NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY

2.1. Hoạt động nghiên cứu kịch Molière

2.2. Giai đoạn trước năm 1945

2.3. Giai đoạn 1975 đến nay

2.4. Hoạt động giảng dạy kịch Molière

2.5. Hoạt động giảng dạy kịch Molière trong trường phổ thông

2.6. Hoạt động giảng dạy kịch Molière ở bậc Đại học

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: TIẾP NHẬN KỊCH MOLIÈRE TỪ GÓC NHÌN TRÌNH DIỄN VÀ SÁNG TÁC

3.1. Tiếp nhận kịch Molière ở Việt Nam từ góc nhìn trình diễn

3.2. Trình diễn kịch Molière bởi những đoàn kịch trong nước

3.3. Trình diễn kịch Molière tại Việt Nam bởi những đoàn kịch đến từ Pháp

3.4. Tiếp nhận kịch Molière ở Việt Nam từ góc nhìn sáng tác

3.5. Vở kịch Chén thuốc độc của Vũ Đình Long và việc học tập những kĩ thuật viết của Molière

3.6. Đề tài người keo kiệt trong vở kịch Quẫn (Lộng Chương) và Lão hà tiện (Molière)

3.7. Vở kịch Bệnh sĩ của Lưu Quang Vũ và Lão hà tiện của Molière

3.8. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Tiếp Nhận Kịch Molière Tại Việt Nam

Kịch Molière đã có một hành trình dài và phức tạp khi tiếp nhận tại Việt Nam. Từ những năm đầu thế kỷ XX, các tác phẩm của ông đã được dịch và công diễn, tạo nên một dấu ấn quan trọng trong văn học và sân khấu Việt Nam. Sự tiếp nhận này không chỉ phản ánh sự ảnh hưởng của văn hóa Pháp mà còn thể hiện sự giao thoa giữa các nền văn hóa. Kịch Molière không chỉ đơn thuần là những vở diễn mà còn là những bài học về nhân sinh, xã hội và con người. Những tác phẩm của ông đã được nghiên cứu, giảng dạy và trình diễn rộng rãi, góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa nghệ thuật Việt Nam.

1.1. Lịch Sử Tiếp Nhận Kịch Molière Tại Việt Nam

Việc tiếp nhận kịch Molière tại Việt Nam bắt đầu từ những năm đầu thế kỷ XX, khi các tác phẩm của ông được dịch và công diễn. Những vở kịch đầu tiên được dàn dựng đã tạo ra một làn sóng mới trong sân khấu Việt Nam, mở ra cơ hội cho các nhà viết kịch trong nước học hỏi và phát triển. Sự ảnh hưởng của Molière không chỉ dừng lại ở việc dịch thuật mà còn lan tỏa đến các sáng tác kịch hiện đại sau này.

1.2. Vai Trò Của Kịch Molière Trong Văn Hóa Việt Nam

Kịch Molière đã đóng góp không nhỏ vào việc hình thành và phát triển thể loại kịch nói tại Việt Nam. Những vở kịch của ông không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng những thông điệp sâu sắc về xã hội và con người. Các nhà viết kịch Việt Nam đã học hỏi từ Molière để tạo ra những tác phẩm mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời vẫn giữ được tinh thần hài hước và châm biếm của ông.

II. Thách Thức Trong Việc Tiếp Nhận Kịch Molière Tại Việt Nam

Mặc dù kịch Molière đã được tiếp nhận và yêu thích, nhưng quá trình này cũng gặp không ít thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự khác biệt về văn hóa và ngôn ngữ. Việc dịch thuật không chỉ đơn thuần là chuyển ngữ mà còn phải truyền tải được tinh thần và ý nghĩa của tác phẩm. Bên cạnh đó, sự thay đổi trong thị hiếu của khán giả cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp nhận các tác phẩm của Molière.

2.1. Khó Khăn Trong Việc Dịch Thuật Kịch Molière

Việc dịch thuật kịch Molière gặp nhiều khó khăn do sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa. Các từ ngữ, cách diễn đạt trong kịch Molière thường mang tính châm biếm và hài hước, điều này đòi hỏi người dịch phải có khả năng sáng tạo để truyền tải đúng ý nghĩa. Nhiều bản dịch không thể hiện được tinh thần của tác phẩm gốc, dẫn đến việc khán giả không cảm nhận được sự hài hước và châm biếm mà Molière muốn truyền tải.

2.2. Thay Đổi Thị Hiếu Của Khán Giả

Thị hiếu của khán giả Việt Nam đã thay đổi theo thời gian, điều này ảnh hưởng đến việc tiếp nhận kịch Molière. Những vở kịch cổ điển đôi khi không còn phù hợp với nhu cầu giải trí hiện đại. Do đó, các nhà sản xuất và đạo diễn cần phải tìm ra cách làm mới các tác phẩm của Molière để thu hút khán giả trẻ tuổi, đồng thời vẫn giữ được giá trị nghệ thuật của tác phẩm.

III. Phương Pháp Nghiên Cứu Kịch Molière Tại Việt Nam

Để nghiên cứu kịch Molière một cách hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp tiếp cận đa dạng. Việc phân tích văn bản, nghiên cứu lịch sử tiếp nhận và khảo sát thực tiễn giảng dạy là những phương pháp quan trọng. Các nhà nghiên cứu cần kết hợp giữa lý thuyết và thực tiễn để có cái nhìn toàn diện về sự tiếp nhận kịch Molière tại Việt Nam.

3.1. Phân Tích Văn Bản Kịch Molière

Phân tích văn bản là phương pháp cơ bản trong nghiên cứu kịch Molière. Việc tìm hiểu cấu trúc, ngôn ngữ và các yếu tố nghệ thuật trong các tác phẩm của ông giúp làm rõ hơn giá trị nghệ thuật và nội dung của kịch. Các nhà nghiên cứu cần chú ý đến bối cảnh lịch sử và văn hóa khi phân tích để có cái nhìn sâu sắc hơn.

3.2. Nghiên Cứu Lịch Sử Tiếp Nhận Kịch Molière

Nghiên cứu lịch sử tiếp nhận kịch Molière giúp hiểu rõ hơn về quá trình mà các tác phẩm của ông đã trải qua tại Việt Nam. Việc tìm hiểu các giai đoạn khác nhau trong lịch sử tiếp nhận sẽ giúp xác định được những yếu tố ảnh hưởng đến sự phổ biến của kịch Molière trong từng thời kỳ.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn Của Kịch Molière Tại Việt Nam

Kịch Molière không chỉ có giá trị nghệ thuật mà còn có ứng dụng thực tiễn trong giáo dục và đời sống văn hóa. Các tác phẩm của ông thường được đưa vào giảng dạy trong các trường học, giúp học sinh hiểu biết hơn về văn hóa và nghệ thuật. Bên cạnh đó, việc trình diễn kịch Molière cũng mang lại những trải nghiệm thú vị cho khán giả.

4.1. Kịch Molière Trong Giáo Dục

Kịch Molière đã được đưa vào chương trình giảng dạy tại nhiều trường học, từ cấp THCS đến đại học. Việc học các tác phẩm của ông giúp học sinh phát triển tư duy phản biện và khả năng phân tích văn bản. Các giáo viên có thể sử dụng kịch Molière như một công cụ để giảng dạy các giá trị nhân văn và xã hội.

4.2. Trình Diễn Kịch Molière Tại Các Sân Khấu

Việc trình diễn kịch Molière tại các sân khấu Việt Nam đã trở thành một hoạt động văn hóa sôi nổi. Các đoàn kịch không chỉ dàn dựng các vở kịch cổ điển mà còn sáng tạo ra những phiên bản mới, phù hợp với thị hiếu khán giả hiện đại. Điều này không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn làm phong phú thêm đời sống nghệ thuật.

V. Kết Luận Về Tiếp Nhận Kịch Molière Tại Việt Nam

Tiếp nhận kịch Molière tại Việt Nam là một quá trình dài và phức tạp, phản ánh sự giao thoa giữa các nền văn hóa. Mặc dù gặp nhiều thách thức, nhưng kịch Molière vẫn giữ được giá trị và sức hấp dẫn đối với khán giả Việt Nam. Việc nghiên cứu và giảng dạy các tác phẩm của ông không chỉ giúp bảo tồn di sản văn hóa mà còn góp phần nâng cao nhận thức về nghệ thuật và xã hội.

5.1. Tương Lai Của Kịch Molière Tại Việt Nam

Tương lai của kịch Molière tại Việt Nam phụ thuộc vào sự sáng tạo và đổi mới trong cách tiếp cận các tác phẩm của ông. Các nhà viết kịch và đạo diễn cần tìm ra những cách thức mới để làm sống lại các vở kịch cổ điển, đồng thời vẫn giữ được giá trị nghệ thuật của chúng. Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại sẽ là chìa khóa để kịch Molière tiếp tục phát triển tại Việt Nam.

5.2. Giá Trị Của Kịch Molière Trong Thời Đại Hiện Nay

Giá trị của kịch Molière vẫn còn nguyên vẹn trong thời đại hiện nay. Những thông điệp về con người, xã hội và những vấn đề nhân sinh mà ông đề cập vẫn còn phù hợp và có ý nghĩa. Việc tiếp tục nghiên cứu và giảng dạy kịch Molière sẽ giúp thế hệ trẻ hiểu rõ hơn về văn hóa và nghệ thuật, đồng thời phát triển tư duy phản biện và khả năng phân tích.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh tiếp nhận kịch molière ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho một sự thay đổi sâu sắc trong sân khấu truyền thống. Vở kịch đầu tiên được chuyển thể bằng chữ quốc ngữ Bệnh tưởng của Molière đã đánh dấu một bước ngoặt lịch sử và cho ra đời vở kịch nói Việt Nam đầu tiên Chén thuốc độc của tác giả Vũ Đình Long năm 1921. Các trí thức Việt Nam xem kịch nói bằng tiếng Quốc ngữ trong các nhà hát, đó là thứ ngôn ngữ được thực dân khuyến khích phát triển, là cách để tự giải phóng khỏi văn hóa Trung Hoa, khẳng định sự đô hộ thuộc địa. Sau khi khánh thành, Nhà hát thành phố đêm đêm đỏ đèn đón khán giả tới xem các chương trình biểu diễn từ âm nhạc, ôpêra đến kịch 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nói, chủ yếu là người Âu và giới thượng lưu người Việt.

Vở kịch nói Việt Nam đầu tiên Chén thuốc độc của Phong Di Vũ Đình Long được công diễn đầu tiên tại Nhà hát thành phố, nhân dịp kỷ niệm một năm ngày thành lập Hội Bắc Kỳ Công thương Đồng nghiệp. Trong cuốn sách Kịch nói và Việt Nam, nhà nghiên cứu Corinne Flicker cho người đọc thấy thế nào là nghịch lí trong sự đồng hóa về mặt văn hóa của thực dân và trong sự xây dựng nền móng nhà nước độc lập và hiện đại, đồng thời bà cũng xem xét ba con đường mà kịch nói Pháp đi vào Việt Nam: qua báo và các ấn phẩm, các bản dịch và cải biên, cuối cùng là sự ứng dụng đan xen giữa kịch nói Pháp và Việt Nam từ đó đến nay. Trước khi tiếp nhận ảnh hưởng của sân khấu phương Tây, sân khấu Việt Nam cũng đã phát triển sôi nổi, nhưng chỉ có ca kịch (lời thoại gắn liền với âm nhạc), với hai thể loại phổ biến nhất là chèo và tuồng. Tuồng, chèo được coi là hai loại hình sân khấu dân tộc đã định hình trước khi kịch nói du nhập vào nước ta.

Chèo, tuồng đã có được vị trí rất đặc biệt trong nền sân khấu cũng như trong thói quen thưởng thức nghệ thuật trình diễn của người xem. Chèo và tuồng cũng có đôi nét tương đồng với hài kịch, những nét tương đồng đó chính là cơ sở nền tảng cho việc tiếp nhận hài kịch Molière ở Việt Nam. Chèo là hình thức sân khấu truyền thống sử dụng nhiều yếu tố hài hước. Chất hài hước đó thấm đẫm trong các tình huống và những biến hóa của nhân vật trên sân khấu.

Tiếng cười trong chèo được gắn liền với nhân vật hề (như một motif quen thuộc). Có thể nói, các trò diễn mang lại tiếng cười trong chèo chủ yếu được thể hiện thông qua nhân vật hề. Về mặt cấu trúc các vở chèo, “vai hề có mặt thường xuyên trong các trò, giễu đời, tự giễu cợt chính mình tạo nên tiếng cười lạc quan, giòn giã liên tục trong suốt tiến trình lịch sử của chèo cổ” [29]. Về ý nghĩa xã hội, “tiếng cười trào lộng là cái hay độc đáo, là thế mạnh của chèo, là vũ khí chiến đấu của người nghệ sĩ bình dân xưa chống lại tầng lớp thống trị, phê phán xã hội, châm biếm những thói hư tật xấu của con người, góp phần trừng ác, khuyến thiện, đồng thời tạo nên cho người xem chèo những giây phút sảng khoái sau khoảng thời gian lao động vất vả.

Với chèo cổ, đối tượng châm biếm của hề chèo là bọn quan lại tham nhũng 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và những kẻ xấu trong các tầng lớp xã hội nông thôn” [29]. Tiếng cười trên sân khấu chèo đã làm nên một diện mạo không hòa lẫn vào các nền sân khấu khác trong khu vực cũng như trên thế giới, nó mang đậm tính chất của loại hình sân khấu có nguồn gốc dân gian từ nền văn minh nông nghiệp. Khác với những nhân vật mang tính chất điển hình, cá thể, độc đáo trong văn học viết, vai hề chèo trong chèo không mang dấu ấn cá nhân mà thường mang một motif chung như mẹ Đốp, anh hề. Họ mang một cái tên chung, diện mạo chung, chức năng chung là mua vui cho khán giả.

Có thể nói, vai hề trong chèo và những nhân vật gây cười trong kịch của Molière có những sự khác nhau cơ bản trong cách xây dựng tâm lí, thói quen và cách thức hành động, nhưng cũng có sự tương đồng nhất định về vai trò tạo nên tiếng cười của nhân vật trên sân khấu, tính khái quát trong hình tượng và những ý nghĩa xã hội sâu xa được tác giả chuyển tải thông qua nhân vật đó. Về măt thủ pháp gây cười, trong chèo ở Việt Nam vốn cũng rất phổ biến những motif như nhận nhầm, điệu bộ, huyên náo, đánh lộn, gậy ông đập lưng ông, lối nói nhại, chơi chữ… Vì vậy, những điểm tương đồng đó của chèo truyền thống và hài kịch nước ngoài đã được đón nhận nhiệt tình ngay sau khi hài kịch xuất hiện ở Việt Nam. Khán giả Việt Nam nhận thấy, ngoài sự khác nhau lớn nhất là về sự tồn tại/ không tồn tại của âm nhạc, còn giữa chèo truyền thống và hài kịch hiện đại cũng ít nhiều có những điểm tương đồng rất dễ nhận ra. Tiếng cười của tuồng, chèo truyền thống bật lên rộn rã bởi những thủ pháp ấy thì giờ khán giả cũng có thể cười cùng hài kịch cũng do chính những thủ pháp đó.

Hiệu quả tiếng cười của sân khấu kịch hát truyền thống đã tạo tiền đề cho cơ hội tiếp cận với các nguyên tắc cơ bản của hài kịch phương Tây. Chính bởi những thành tựu của chèo, tuồng, chính sự ăn sâu bén rễ của nó trong tâm thức người Việt mà trong quá trình phát triển ở nước ta, tiếng cười trên sân khấu kịch nói đã không tiếp thu ảnh hưởng kịch phương Tây một cách hoàn toàn, thụ động, mà luôn có sự tương tác, kết hợp với những đặc trưng của của nghệ thuật dân gian truyền thống. Trong thực tế ở sân khấu kịch nói, khi sử dụng cái hài để chấm biếm, đả kích những thói hư tật xấu của con người, các 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghệ sĩ vẫn luôn hướng về truyền thống, tích hợp những thủ pháp gây cười quen thuộc của dân gian. Sự tích hợp văn hóa trong một loại hình sân khấu được du nhập từ phương Tây là thành tựu văn hóa đáng ghi nhận của sân khấu Việt Nam thế kỉ XX.

Đặc trưng này cũng gợi mở nhiều hướng nghiên cứu thú vị về sự tiếp nhận kịch Molière ở Việt Nam trong sự hòa trộn với văn hóa bản địa một cách nhuần nhị. Bên cạnh hai thể loại có lịch sử ra đời và phát triển lâu đời là chèo, tuồng, đầu thế kỷ XX, một thể loại ca kịch mới là cải lương được hình thành ở Nam Bộ trên cơ sở nhạc Tài tử. Cải lương phát triển nhất ở khu vực Nam Bộ và góp phần làm nên bản sắc riêng ở khu vực này. Thể loại sân khấu mới này hòa trộn nhiều nguồn ảnh hưởng, trong đó đáng chú ý là có cách trình diễn tại nhà hát có phông màn theo lối của người Italia.

Sự hiện diện của cải lương, chèo, tuồng trong nền sân khấu dân tộc cũng góp phần quan trọng vào việc quy định sự tiếp nhận kịch nói nói chung và hài kịch Molière nói riêng. Khi kịch nói du nhập vào nước ta, sân khấu cũng có nhiều nỗ lực phát triển để thay đổi diện mạo. Ở miền Bắc, chèo cũng từng bước được cải biên. Tuy nhiên, hình thức ca kịch đã không còn đáp ứng được nhu cầu thưởng thức và thị hiếu của các tầng lớp dân chúng thành thị đang tăng lên nhanh chóng.

Thực tế đó đòi hỏi và cũng mở đường cho thể loại kịch nói phát triển ở nước ta như một loại hình văn học và loại hình sân khấu mới mẻ. Trước khi những bản dịch kịch đầu tiên và những vở kịch nói đầu tiên được công bố, trình diễn ở nước ta thì kịch nói cũng đã manh nha phát triển từ những năm 1912. Ông Lê Thanh Hiền đã sưu tầm được những tài liệu xoay quanh vở kịch Thương khó – một trong nhưng vở kịch được coi là đầu tiên của nước ta. Những tài liệu quý giá đó bao gồm: một kịch bản Thương khó gồm 150 trang in năm 1912, tái bản lần thứ hai năm 1915, tái bản lần ba năm 1923, cùng tại Quy Nhơn; một tập sách ảnh vở Thương khó gồm 38 kiểu các lớp diễn in năm 1913 tại Sài Gòn; ba là một kịch bản Opera Thương khó.

Như vậy chúng ta có thể thấy Thương khó có hình thức và sức lan tỏa rất đa dạng và phong phú và cũng đã gây được ít nhiều tiếng vang. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo Đề dẫn ở đầu sách kịch Thương khó (in tại Quy Nhơn năm 1912), thì vào năm 1632, dân làng Oberammergau, trong xứ Bavaria, thuộc nước Đức hợp lực làm nên kịch Thương khó diễn để dâng tạ Đức Chúa Trời đã che chở cho dân làng ấy thoát khỏi đại dịch. Kịch diễn tích về Chúa Jesus. Và chỉ bằng tiền hảo tâm ở những người xem kịch mà dân làng xây được một hội trường đủ chỗ cho hàng ngàn người ngồi.

Về sau cả nước Đức theo làng Oberammergau làm kịch Thương khó. Dần dần kịch Thương khó trở thành tích trò dân gian vượt ra ngoài biên giới, phổ biến rộng rãi khắp năm châu. Cũng theo sách dẫn trên cho biết, kịch Thương khó du nhập Việt Nam do J.Tòng biên soạn- dàn dựng, tập liền trong vòng năm tháng thì xong, đem công diễn tại Sài Gòn năm 1912, được nhiều thành phần xã hội cùng hào hứng đón xem hoan hỷ. Mỗi lần diễn có từ ba đến bốn nghìn người xem [3].

Hay như đối với hài kịch Lão hà tiện, một trong những tác phẩm của Molière rất phổ biến ở Việt Nam, thì với đề tài keo kiệt, trong văn học dân gian Việt Nam cũng đã có tới 13 truyện xoay quanh đề tài này như Nhà giàu keo bẩn, May không đi giày, Thà chết còn hơn, chó đá, Tiểu hà tiện – đại hà tiện [7]… Những yếu tố đó đã góp phần tạo nên một nền tảng để tiếp nhận hài kịch Molière.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Tiếp Nhận Kịch Molière Tại Việt Nam: Nghiên Cứu và Phân Tích" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình tiếp nhận và ảnh hưởng của kịch Molière tại Việt Nam. Tác giả phân tích các yếu tố văn hóa, xã hội và nghệ thuật đã góp phần vào việc đưa các tác phẩm của Molière đến gần hơn với khán giả Việt Nam. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về giá trị nghệ thuật của kịch Molière mà còn mở ra những góc nhìn mới về sự giao thoa văn hóa giữa Pháp và Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo tài liệu "Luận án tiếp nhận tiểu thuyết thủy hử ở trung quốc từ đầu thế kỷ xx đến nay", nơi mà bạn sẽ tìm thấy những phân tích tương tự về sự tiếp nhận văn học trong bối cảnh văn hóa khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về sự ảnh hưởng của các tác phẩm văn học và nghệ thuật trong các nền văn hóa khác nhau.