Chương 1: Tổng quan về sự nghiệp nghiên cứu, phê bình văn học của Hoài Thanh - Chương 2: Phương pháp phê bình văn học của Hoài Thanh - Chương 3: Phong cách phê bình văn học của Hoài Thanh 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ NGHIỆP NGHIÊN CỨU VÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC CỦA HOÀI THANH 1.1 Tiểu sử Hoài Thanh 1.1 Cuộc đời Hoài Thanh Hoài Thanh (1909 - 1982) có tên khai sinh là Nguyễn Đức Nguyên (ngoài ra ông còn sử dụng các bút danh khác như Văn Thiên, Le Nha Que), là một nhà phê bình văn học uyên bác và tinh tế, đã đóng góp công lớn về mặt phê bình, lý luận để khẳng định Thơ mới trong văn học Việt Nam thế kỉ XX. Tác phẩm bất hủ “Thi nhân Việt Nam” (1942) đã đưa ông lên vị trí cao, xứng tầm một nhà phê bình lớn của nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX. Hoài Thanh sinh ngày 15 tháng 7 năm 1909 trong một gia đình nhà Nho nghèo có tham gia phong trào Đông Du chống Pháp của Phan Bội Châu. Quê ông ở xã Nghi Trung, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.Từ nhỏ, cậu bé Nguyên đã sớm phải làm lụng vất vả giúp đỡ gia đình, nhưng rất chăm chỉ học hành.
Hồi nhỏ ông là học sinh của trường Quốc học Vinh; bắt đầu học chữ Hán, chữ Quốc ngữ rồi theo học trường Pháp Việt đến bậc trung học; tham gia phong trào học sinh yêu nước của Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu. Trước 1945, ông tham gia viết văn, làm báo, dạy học và được coi là người đứng đầu trường phái phê bình văn học “Nghệ thuật vị nghệ thuật”. Năm 1927, ông gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng. Năm 1928, ở tuổi 19, sau khi tốt nghiệp thủ khoa bậc thành chung ở trường Quốc học Vinh, Hoài Thanh ra Hà Nội theo học trường Bưởi.
Năm 1930, ông tham gia tổ chức Tân Việt Cách Mạng Đảng, nên bị bắt giam, kết án 6 tháng tù treo và trục xuất về quê. Ra tù, Hoài Thanh trở lại học trường Bưởi, rồi lại bị đuổi học vì tội cất giữ tài liệu chống chính quyền Pháp. Sau đó, ông ra ở trọ tại quán cơm số nhà 32 Hàng Đồng. Tại đây, Hoài Thanh gặp Lưu Trọng Lư và một số người vừa 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bãi khoá ở Quốc học Huế ra Hà Nội kiếm chỗ học tư.
Ông nhận dạy cho mọi người để có tiền tự học đi thi tú tài Tây, vì theo quy định thời ấy những người đã bị đuổi học thì không được thi “tú tài ta”. Sau khi đỗ tú tài, năm 1930, Hoài Thanh xin vào làm ở tờ nhật báo Phổ thông.Ngô Tất Tố là người đầu tiên có công giúp đỡ Hoài Thanh khi mới chập chững bước vào nghề làm báo.Nhưng xem ra con đường viết báo không mấy hanh thông, nên ông và một số người ở báo này bàn với chủ báo ra thêm tờ “Le Peuple” (Dân chúng) mỗi tuần hai kỳ.Lúc bấy giờ báo tiếng Pháp không bị kiểm duyệt.Đây là tờ báo đầu tiên bằng tiếng Pháp của người Việt Nam ở miền Bắc, bán rất chạy.Tuy nhiên, nó cũng chỉ tồn tại được ba số, rồi bị đóng cửa.Lần thứ hai Hoài Thanh lại bị bắt giam và trục xuất khỏi Hà Nội, áp giải về quê nhà giao cho lý trưởng quản lý. Năm 1931, ông đi làm gia sư cho một chủ khách sạn ở Vinh.Tình cờ, cậu tú Thanh gặp được ông Bùi Huy Tín - chủ nhà in Đắc Lập ở Huế tại đây.Ông ta đã xin với ông chủ khách sạn cho cậu tú Thanh vào Huế làm thợ chữa morasse cho nhà in của ông ta.Ông Tín nhận tú tài Nguyễn Đức Nguyên làm morasse không ngờ đã tạo điều kiện cho một nhà báo trẻ xuất hiện, về sau trở thành nhà phê bình Hoài Thanh nổi tiếng. Suốt thời gian gần sáu năm làm nghề chữa morasse, ban ngày đi làm, tối về hoặc ngày nghỉ, Hoài Thanh tìm các loại sách báo đọc để viết bài cho các báo “Tràng An” và “La gazette de Hué”.
Từ tháng 3/1935 cho đến khi Hoài Thanh bị chính quyền thực dân Pháp cấm viết báo vào tháng 6/1936, ông được giao giữ các mục “Chuyện rông” với bút danh Le Nha Que, mục “Phê bình”, “Văn nghệ”, “Bình báo” cùng các bài chuyên luận về văn hoá, pháp luật, kinh tế, xã hội, thời sự quốc tế v.v… với bút danh Hoài Thanh. Trong tư cách là một nhà báo, thời ấy, ông tâm niệm rằng cần phải dùng ngòi bút để chống lại mọi bất công của xã hội, bênh vực người nghèo khổ, chống bọn cường hào, bọn cầm quyền áp bức, bóc lột nhân dân, chống mọi hủ tục 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cùng với lối sống thấp hèn, ca ngợi non sông đất nước, vinh danh các giá trị văn hoá dân tộc, cổ vũ thái độ dấn thân vì lợi ích của xã hội và con người. Chỉ trong hơn một năm - từ báo “Tràng An” số 4 (ngày 12/3/1935) đến số 131 (ngày 12/6/1936) là số đăng “thông báo chia tay cùng bạn đọc” của ông và vợ là bà Phan Thị Nga vì hai người bị thực dân Pháp cấm viết báo “Tràng An” - ông đã viết trên một trăm bài báo đăng trên tờ “Tràng An” xuất bản tại Huế và nay được tập hợp lại trong cuốn “Hoài Thanh trên báo Tràng An” (NXB Hội Nhà văn Hà Nội, 2009). Trong “Lời giới thiệu” cuốn sách này, con trai ông - Từ Sơn - đã viết: “…Cha tôi thường nói ông rất thích kiểu viết theo lối notes có nghĩa giống như là tùy bút.
Lối viết ấy cho phép người viết muốn ghi gì thì ghi, phóng bút mà ghi, không cần phải tính toán gì hết. Trên báo “Tràng An” và “La Gazette de Hué” ông viết theo kiểu ấy và đã để cho ngòi bút của mình động đến mọi thứ chuyện trên đời, trong xã hội mà người viết từng quan sát, nhận xét, suy nghĩ.mong sao được chia sẻ với người đọc để cùng sống đẹp hơn, hay hơn,đúng hơn…” (104). Quả là Hoài Thanh đã “động đến mọi thứ chuyện trên đời” qua hơn trăm bài đăng trên báo “Tràng An”: từ quan hệ Pháp-Đức trước thềm thế chiến II đến chuyện “Nước Tàu cải cách tệ chế”; từ nỗi khổ của nông dân dưới ách bọn cường hào hương thôn tự trị đến “Tình cảnh dân làm muối rất đáng thương”; từ chuyện giáo dục con trẻ đến thân phận vua quan Triều Nguyễn… Hoài Thanh từng tham gia Tổng khởi nghĩa của Việt Minh cướp chính quyền ở Huế tháng 8 năm 1945.Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, ông vua thẩm bình thơ thuở nào như Hoài Thanh bỗng dưng đổi sang một hướng khác, gác lại niềm đam mê văn nghiệp, ông tích cực tham gia các hoạt động xã hội. Điều này khiến không ít văn hữu ngỡ ngàng đến khó hiểu và có người sinh hoài nghi.
Sau 1945, ông lần lượt giữ những chức vụ: Chủ tịch Hội văn hóa cứu quốc Huế (tháng 9/1945); cán bộ giảng dạy tại Đại học Hà Nội (1945 - 1946); 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam (1947 - 1948); ủy viên Ban thường vụ Hội Văn nghệ Việt Nam(1950); Trưởng tiểu ban Văn nghệ Ban Tuyên huấn Trung ương (1950-1956); Vụ trưởng Vụ nghệ thuật và giảng dạy tại Khoa Văn Đại học Tổng hợp Hà Nội (1958). Năm 1960, Hoài Thanh được bầu làm đại biểu Quốc hội.Trong khoảng 10 năm 1958 – 1968,ông trở thành đại biểu Quốc hội khóa II, làm Tổng Thư ký Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam; tham gia Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khóa I và II. Từ 1959–1969, ông giữ chức Phó viện trưởng Viện Văn học Việt Nam kiêm Thư ký tòa soạn Tạp chí Nghiên cứu văn học của Viện. Từ 1969 – 1975, ông giữ chức Chủ nhiệm tuần báo Văn nghệ của Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, nay là Tổng Biên tập báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam.
Ông là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Năm 2000, ông được Nhà nước truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật với ba tác phẩm: “Phê bình và tiểu luận” (3 tập), “Nói chuyện thơ kháng chiến”, “Thi nhân Việt Nam”. Hoài Thanh mất ngày 14 tháng 3 năm 1982 tại Hà Nội, để lại một di sản văn học đồ sộ và vô cùng quý báu cho tất cả mọi người.2 Khái quát vềHoài Thanh Hơn tám chục năm trước, Hoài Thanh còn là một nhà báo rất trẻ (chưa đầy ba mươi tuổi), nhưng nhờ thông hiểu văn hóa Đông - Tây, biết nhìn xa trông rộng, nên những bài viết của ông đã phản ánh được đầy đủ cuộc sống nhiều mặt thời đó và không ít bài đến nay vẫn còn ý nghĩa. Trong lĩnh vực văn chương, ngoài những bài viết xung quanh cuộc tranh luận “Nghệ thuật vị nghệ thuật và Nghệ thuật vị nhân sinh” đã được công bố trong một số sách nghiên cứu những năm qua, Hoài Thanh, ngay từ khi viết báo “Tràng An”, đã tỏ ra là một cây bút phê bình có cảm thụ văn chương tinh tế và trung thực.
Đọc những bài phê bình trên báo “Tràng An” của Hoài Thanh, chúng ta còn hình dung được diện mạo hoạt động văn học 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thời đó: “Nhân xem quyển “Kép Tư Bền”:Nguyễn Công Hoan, nhà văn có nhiều hy vọng”, “Ông Phan Khôi với quyển “Chương dân thi thoại”, “Dứt tình của Vũ Trọng Phụng”, “Thế Lữ, thi sĩ của những người chưa yêu”, “Những câu thơ dễ thương - Nhân xem tập thơ của ông Phan Văn Dật”, “Cô lâu mộng, tiểu thuyết của ông Võ Liêm Sơn”… Hoài Thanh còn viết liền trên hai kỳ báo giới thiệu Henri Barbusse - nhà văn cánh tả nổi tiếng của Pháp, tác giả tiểu thuyết “Le Feu” (“Khói lửa”, đã dịch ra tiếng Việt) được giải Goncourt, giới thiệu “một quyển sách bạo” - quyển “Indochina S.” của bà Andrée Viollis, một tác phẩm về sau đã được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử Việt Nam trích dẫn. Ông cũng dịch và bình luận về bài diễn văn của nhà văn nổi tiếng André Gide tại Hội nghị quốc tế các nhà văn tại Paris ngày 22/6/1935…Như vậy, trong mấy năm ở Huế (1931- 1936), Hoài Thanh đã không ngừng cập nhật “thông tin”, mở rộng kiến thức văn chương, chuẩn bị những điều kiện để làm nên tác phẩm để đời “Thi nhân Việt Nam”. “Hoài Thanh trên báo Tràng An” giúp chúng ta hình dung được bộ mặt tinh thần và cuộc sống nhiều vẻ của xã hội Việt Nam hơn 80 năm trước; đồng thời, “chân dung” nhà báo trẻ Hoài Thanh đã góp phần làm cho chân dung tác giả “Thi nhân Việt Nam” có chiều sâu hơn, hoàn chỉnh hơn.