CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHẢ NĂNG TIẾP CẬN TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Trái ngược với các tập đoàn đa quốc gia xuất hiện trên khắp thế giới, các DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô hoạt động kinh doanh nhỏ hơn đáng kể, tuy nhiên lại tạo ra phần lớn việc làm và mang lại sự tăng trưởng rõ nét trong toàn bộ nền kinh tế. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy khả năng để các DNNVV phát huy hết tiềm năng của họ trong nền kinh tế lại phụ thuộc chủ yếu vào năng lực tài chính sẵn có của họ (Cook, 2001; Whincop, 2001). Do đó, tài chính nói chung và tín dụng nói riêng đặc biệt quan trọng đối với các DNNVV, vì khả năng tự tài trợ thông qua lợi nhuận giữ lại từ hoạt động sản xuất kinh doanh thường kỳ hay huy động vốn cổ phần từ thị trường của DNNVV là không đủ lớn mạnh và ổn định.
Các quan điểm về doanh nghiệp nhỏ và vừa Tổng quan nghiên cứu cho thấy về doanh nghiệp nhỏ và vừa có những phát hiện như sau: Định nghĩa DNNVV theo tiêu chí định lượng phụ thuộc vào số lượng lao động (tiêu chí được sử dụng phổ biến nhất), số vốn đầu tư trong quá trình hoạt động, tổng khối lượng sản phẩm sản xuất, giá trị tài sản sở hữu và doanh thu bình quân hàng năm. Ngược lại, các định nghĩa theo tiêu chí định tính của các DNNVV dựa trên các yếu tố hoạt động chính như hình thức kinh doanh, mô hình quản lý tổ chức hành chính và tốc độ tăng trưởng hàng năm (Abdul Rasoul, 1998; Abu Sayed Ahmad, 2005; Campbell, 1976). Watson (2010) đã mở rộng các tiêu chí đánh giá về định nghĩa DNNVV, ông cho rằng sự khác nhau giữa các quốc gia sẽ dẫn đến các cách định nghĩa khác nhau về DNNVV, tùy thuộc vào: vốn đầu tư, số lượng lao động, doanh thu bán hàng hàng năm, tốc độ tăng trưởng hàng năm, trình độ công nghệ và hình thức kinh doanh. Đồng thời 7 Watson đã khẳng định khái niệm về DNNVV cũng khác nhau giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển.
Có thể nói, mỗi quốc gia khác nhau có cách phân loại DNNVV riêng; do đó, rất khó để áp dụng một định nghĩa chung thống nhất cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Trịnh Đức Chiều & cộng sự (2010) cho thấy sự phát triển của DNNVV được quyết định bởi nhiều yếu tố như mặt bằng đất sản xuất, thuế và phí phải nộp ngân sách nhà nước, vốn (tài chính), nguồn nhân lực, công nghệ, thị trường tiêu thụ và môi trường kinh doanh. Trong đó, nguồn vốn tài chính là một trong những yếu tố ảnh hưởng chủ yếu và thường xuyên đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNVV, do các DNNVV thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn vay trung và dài hạn. Khó khăn xuất phát từ hai phía, do cả DNNVV và các tổ chức tài chính gây ra.
Arbiana Govori (2013) chỉ ra thuật ngữ "SME" bao gồm rất nhiều định nghĩa. Các tổ chức tài chính cũng như các quốc gia khác nhau đã thiết lập các hướng dẫn cụ thể để phân loại các DNNVV dựa trên tổng doanh thu bán hàng, số lượng nhân viên hoặc giá trị tài sản. Bandar Waked (2016) đồng thời cho rằng các định nghĩa về DNNVV ở các quốc gia khác nhau có thể được giải thích bởi lợi ích cá nhân của một số bên liên quan, sự thay đổi hàng ngày của nền kinh tế và môi trường kinh doanh, thêm vào đó là sự khác biệt giữa đặc điểm nhân khẩu học của quốc gia và quy mô kinh doanh chung được thực hiện trong các quốc gia đó. Định nghĩa về các DNNVV có thể được giải thích bởi lợi ích cá nhân của một số bên liên quan như chính phủ vì những ưu đãi của chính phủ đưa ra có thể liên quan đến các cách xác định chỉ tiêu hình thành DNNVV.
Các tiêu chí được sử dụng để xác định DNNVV sẽ ảnh hưởng đến số lượng DNNVV trong nước, dẫn tới sự thay đổi trong các quyết định liên quan đến chi tiêu và/hoặc thuế của chính phủ. Mohammed Chowdhury & Zahurul Alam (2017) đã đưa ra định nghĩa liên quan đến số lượng công nhân viên trong khuôn khổ doanh nghiệp: Doanh nghiệp lớn có từ 500 công nhân trở lên; 8 Doanh nghiệp trung bình có 100 - 499 công nhân; Doanh nghiệp nhỏ có 99 công nhân trở xuống. Đồng thời sự phân loại dành cho các nước đang phát triển như sau: Doanh nghiệp lớn có từ 100 công nhân trở lên; Doanh nghiệp vừa có 20-99 lao động; Doanh nghiệp nhỏ có 5-19 công nhân; Doanh nghiệp siêu nhỏ có ít hơn 5 công nhân. Trần Quốc Hoàn (2018) đã đưa ra quan điểm về DNNVV là các doanh nghiệp thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh ở quy mô nhỏ cả về vốn, lao động, sản phẩm cũng như doanh thu và lợi nhuận.
Ông đồng thời khẳng định các tiêu chí để đánh giá phân loại DNNVV có sự thay đổi nhất định gắn với mỗi giai đoạn phát triển kinh tế xã hội của từng quốc gia. Daniel Liberto (2022) định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) là loại doanh nghiệp duy trì doanh thu, tài sản hoặc số lượng nhân viên dưới một mức nhất định. Có chung quan điểm với những bài nghiên cứu trước đó, Daniel phát biểu rằng: mỗi quốc gia có định nghĩa riêng về doanh nghiệp vừa và nhỏ, tuy nhiên một số tiêu chí về quy mô phải được đáp ứng trước tiên và đôi khi ngành mà công ty hoạt động cũng được tính đến. Cụ thể hơn, mỗi quốc gia cũng có thể đặt ra các hướng dẫn khác nhau giữa các ngành để xác định thế nào là một doanh nghiệp nhỏ trong các ngành.
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) (2006), các DNNVV đã được công nhận như một nguồn động lực quan trọng trong nền kinh tế, đại diện cho sự năng động, sáng tạo và linh hoạt ở các quốc gia tiên tiến cũng như ở các quốc gia đã và đang phát triển trên toàn thế giới. Tổng thư ký Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển đã định nghĩa sự xuất hiện các DNNVV là nguồn tạo việc làm cho người dân, cải thiện tối đa tình trạng thất nghiệp, tăng khả năng cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế năng động và đổi mới từng ngày (Panitchpakdi, 2009). Đồng quan điểm, Arbiana Govori 9 (2013) đã nhận xét về vai trò của các DNNVV ở hầu hết các quốc gia có thu nhập thấp đã đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP và tạo việc làm mới. Các quan điểm về khả năng tiếp cận tín dụng Nếu tài chính là nguồn dinh dưỡng nuôi sống các DNNVV thì việc tiếp cận được nguồn tài chính ấy là xương sống cho sự phát triển của các doanh nghiệp nói chung và các DNNVV nói riêng trong bất kỳ nền kinh tế nào hay bất cứ quốc gia nào.
Việc tăng khả năng tiếp cận vốn cho các DNNVV là cần thiết để đảm bảo hiệu suất kinh doanh và cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; duy trì sự tăng trưởng và tính bền vững của ngành, cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc cung cấp thanh khoản và khả năng tạo tiền cho các chủ thể tham gia trong nền kinh tế, cả cá nhân và các doanh nghiệp. Các nghiên cứu về khả năng tiếp cận tín dụng cho thấy những phát hiện như sau: Đầu tiên, khả năng tiếp cận tín dụng được coi là khả năng doanh nghiệp vay vốn từ các nguồn tín dụng khác nhau (Diagne, 1999). Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (2008), tiếp cận tín dụng được hiểu là không có rào cản về chi phí phát sinh hoặc không có chi phí phát sinh trong việc sử dụng các dịch vụ tài chính. Ngân hàng - tổ chức tín dụng được công nhận trên toàn thế giới là nhà cung cấp vốn bên ngoài chính cho khu vực DNNVV ở cả các nước phát triển và đang phát triển (Vera & Onji, 2010; Wu & cộng sự, 2008; Carey & Flynn, 2005).
Theo Khoản 14, Điều 4, Luật Các Tổ Chức Tín Dụng (2010) quy định, việc DNNVV thỏa thuận với ngân hàng nhằm tiếp cận hoặc sử dụng một khoản tiền vốn theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác khi có nhu cầu sử dụng vốn vay phục vụ cho hoạt động kinh doanh là khả năng tiếp cận vốn tín dụng. Zakir Machmud và Ainul Huda (2011) đã định nghĩa khả năng tiếp cận tài chính là khả năng sử dụng được các nguồn tài chính từ các tổ chức chính thức bên ngoài như ngân hàng, nhà cung cấp hay chính phủ. 10 Ngân hàng Thế giới (2012) báo cáo rằng sự sẵn có của nguồn tài chính bên ngoài có mối liên hệ tích cực với năng suất và tốc độ tăng trưởng của các DNNVV. Siedschlag và cộng sự (2014) đã mở rộng nhận định của Ngân hàng Thế giới bằng việc xác nhận mối tương quan thuận giữa khả năng tiếp cận tài chính với năng suất lao động và các quyết định đầu tư các doanh nghiệp châu Âu.
Nguyễn Thị Kim Lý (2013) khi thực hiện nghiên cứu về khả năng tiếp cận vốn đã chỉ ra khái niệm cho vấn đề bao gồm chuỗi hành động từ khi tìm hiểu, nhận biết và nắm bắt những thông tin về hoạt động vay vốn của tổ chức tín dụng đến việc lựa chọn mức lãi suất phù hợp sao cho chi phí lãi vay phải trả ở mức thấp nhất hoặc trong điều kiện chấp nhận được của doanh nghiệp. Trước khi tiếp cận được nguồn vốn vay, bên cho vay sẽ đưa ra hợp đồng quy định các điều khoản ràng buộc và yêu cầu mà bên đi vay phải thực hiện hoặc thỏa mãn trước và sau khi được cấp vốn. Những điều kiện được hai bên thông qua nhằm đảm bảo giảm thiểu tối đa rủi ro có thể xảy ra đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp đi vay. Ở Châu Á và Thái Bình Dương, khả năng tiếp cận tài chính từ phía ngân hàng của các DNNVV nhờ vào các biện pháp hỗ trợ của chính phủ như tín dụng và cho vay tín dụng bắt buộc đã dần được cải thiện (ADB-OECD 2014).
Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Oanh (2015), tác giả đã tóm tắt khái niệm về khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của SMEs trong tổ hợp những điều kiện đảm bảo cho DNNVV tiếp cận được khoản vay.