CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TIỀN ẢO 1. Khái niệm tiền ảo và các khái niệm liên quan 1. Khái niệm về tiền ảo Vào năm 2012, Ngân hàng Trung ương Châu Âu – European Central Bank (ECB) – định nghĩa: “Tiền ảo (virtual money) là một loại tiền kỹ thuật số (digital money) không được điều chỉnh bởi ngân hàng trung ương; được ban hành và kiểm soát bởi nhà phát triển; được sử dụng và chấp nhận giữa các thành viên của cộng đồng ảo nhất định”5. Đây có thể được xem là định nghĩa đầu tiên về tiền ảo, định nghĩa này đã đưa ra một nội hàm tương đối đầy đủ về tiền ảo.
Qua định nghĩa này thì tiền ảo có các đặc tính sau: i) Tiền ảo là một dạng tiền kỹ thuật số tồn tại trong môi trường mạng, được sử dụng thông qua các thiết bị điện tử như máy vi tính, điện thoại thông minh smartphone,…; ii) Nó không được điều chỉnh bởi bất kỳ ngân hàng trung ương nào hay nói cách khác tiền ảo không phải là một loại tiền tệ hợp pháp của các quốc gia trên thế giới như tiền giấy, tiền xu hoặc tiền điện tử; iii) Tiền ảo được phát hành và kiểm soát bởi nhà phát triển như công ty hoặc cũng có thể là một cá nhân. Việc phát hành một đồng tiền ảo dễ hơn rất nhiều so với việc phát hành tiền tệ của một quốc gia chỉ cần vài bước kỹ thuật hoặc một phần mềm là bất kỳ cá nhân nào cũng có thể phát hành đồng tiền ảo của riêng mình; iv) Được sử dụng và chấp nhận giữa các thành viên trong cộng đồng nhất định; Vào năm 2015, ECB đã hoàn thiện khái niệm về tiền ảo để phù hợp hơn với thực tiễn phát triển của tiền ảo. ECB đã định nghĩa lại khái niệm tiền ảo: “Tiền ảo có 5 Ngân hàng Trung ương châu Âu, Virtual Currency Schemes”, 10/2012, http://www.eu/pub/pdf/other/virtualcurrencyschemes201210en. 9 thể được định nghĩa như một đại diện số có giá trị, không phải do ngân hàng trung ương hoặc các tổ chức tài chính phát hành; và có thể được sử dụng để thay thế tiền thật”6.
Khái niệm mới này của ECB đã hoàn thiện hơn so với khái niệm cũ rất nhiều. Thứ nhất, tiền ảo không chỉ được coi là đại diện kỹ thuật số mà nó còn là đại diện kỹ thuật số có giá trị – điều này cho thấy ECB đã thừa nhận giá trị của tiền ảo. Thứ hai, ECB đã bỏ đi đặc tính “được ban hành và kiểm soát bởi nhà phát triển”. Bởi vì, hiện tại tiền ảo không chỉ được kiểm soát tập trung bởi một tổ chức phát hành mà nó còn có thể được kiểm soát phi tập trung dưới quyền quyết định của chính cộng đồng người sử dụng đồng tiền ảo đó.
Thứ ba, là việc ECB đã định nghĩa tiền ảo có thể được sử dụng để thay thế tiền thật đây có thể được xem là sự thừa nhận của ECB cho thấy tiền ảo ngày càng có giá trị trong thực tế có thể được dùng để thanh toán, trao đổi trong thực tế như tiền thật. Khái niệm này của ECB sau đó đã được đưa vào áp dụng trong rất nhiều các văn bản chính thức của Hội đồng châu Âu và Uỷ ban châu Âu có thể kể đến như chỉ thị số 2009/110 và Chỉ thị số 2015/849 của Hội đồng châu Âu về ngăn ngừa việc sử dụng hệ thống tài chính nhằm mục đích rửa tiền hoặc tài trợ cho khủng bố và sửa đổi Chỉ thị số 2009/101/EC,… Vào năm 2013, Cục Phòng chống tội phạm tài chính Mỹ (FinCEN) đã xác định và định nghĩa tiền thật là “đồng xu và tiền giấy của Mỹ hoặc bất kỳ nước nào khác mà được thừa nhận là hợp pháp, đang lưu hành thông thường và được sử dụng, chấp nhận như phương tiện trao đổi trong nước phát hành nó”, còn tiền ảo được định nghĩa là một phương tiện trao đổi, hoạt động như tiền thật nhưng chỉ hoạt động trong một số môi trường và không có tất cả các thuộc tính của tiền thật7. Theo định nghĩa này của Cục Phòng chống tội phạm Mỹ và theo Đạo luật Bảo mật ngân hàng thì tiền tệ ảo không đáp ứng các tiêu chí để được coi là tiền tệ. Tuy nhiên, nó hoạt động như một công cụ thay thế cho đồng tiền thật và có thể đổi sang tiền thật.
Các đồng tiền ảo 6 Ngân hàng Trung ương châu Âu, European Central Bank, “Virtual currency schemes – a futher analysis”, 02/2015, https://www.eu/pub/pdf/other/virtualcurrencyschemesen. 7 Cục Phòng chống tội phạm tài chính Mỹ – FinCEN, “Application of FinCEN’s Regulations to Persons Administering, Exchanging, or Using Virtual Currencies”’ Financial Crimes Enforcement Network, 18 March 2013, p.gov/statutes_regs/guidance/pdf/FIN-2013-G001.pdf (truy cập ngày 01/02/2023) 10 được gọi là các khoản tín dụng, có nghĩa là chúng không có giá trị nội tại (chúng không được định giá bởi vàng, bạc, dầu, lúa mì, hoặc các mặt hàng khác), và giá trị của chúng được xác định bởi sự quyết định của các tổ chức hoặc được định giá theo giá thị trường”8. Theo định nghĩa này của FinCEN thì tiền ảo không phải là tiền thật, không được phát hành bởi ngân hàng trung ương; nó có thể là công cụ thay thế tiền thật trong thanh toán nhưng tiền ảo không được bảo hộ giá trị nội tại bởi nhà phát hành mà giá trị của nó được quyết định bởi các tổ chức hoặc cộng đồng người sử dụng theo giá trị của thị trường. Nhật Bản, một quốc gia phát triển đi tiên phong trong việc ban hành văn bản pháp luật riêng điều chỉnh về tiền ảo cũng đưa ra khái niệm tiền ảo làm cơ sở cho việc áp dụng và điều chỉnh.
Theo quy định tại khoản 5 Điều 2 Luật Tiền ảo Nhật Bản có hiệu lực từ ngày 01/4/2017 thì tiền ảo được hiểu là9: Giá trị giống như tài sản (được ghi lại bởi các cách thức điện tử trong các phương tiện điện tử…, không bao gồm bất kỳ loại tiền tệ nào được cho phép, của Nhật Bản hoặc các quốc gia khác, và các tài sản được xác định là các đơn vị tiền tệ đó) được sử dụng để thanh toán giá trị hàng hoá khi mua bán, thuê hoặc các dịch vụ khác cho một hoặc nhiều đối tượng cụ thể (“Tiền ảo loại 1”)10; 8 Cục Phòng chống tội phạm tài chính Mỹ – FinCEN, “Application of FinCEN’s Regulations to Persons Administering, Exchanging, or Using Virtual Currencies”’ Financial Crimes Enforcement Network, 18 March 2013, p.gov/statutes_regs/guidance/pdf/FIN-2013-G001.pdf (truy cập ngày 01/02/2023) 9 Article 2, Section 5 of Virtual Currency Act of Japan Act on Financial Transactions Virtual currency as described in this Act refers to: “1. Asset-like values (limited to those items electronically recorded by electronic or other equipment and excluding Japanese currency, foreign currency, and currency – denominated assets; the same applies to the item below) usable as payment to indefinite parties for the cost of purchase or items or receipt of services and which can be transferred by means of electronic data processing system; 2. Asset-like values that can be used in exchange with indefinite parties for those items described in the preceding item and which can be transferred by means of electronic data processing systems.” 10 Nguyễn Minh Oanh, “Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về tiền ảo trong bối cảnh hội nhập và phát triển”, NXB Tư pháp năm 2019, trang 19. 11 Giá trị giống như tài sản được dùng để trao đổi đối với một hoặc nhiều chủ thể không xác định, với các giá trị tài sản được nêu trên và có thể được chuyển giao thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử (“Tiền ảo loại 2”)11.
Các loại tiền ảo được đưa ra trong pháp luật Nhật Bản khá cụ thể và cũng bao gồm các đặc tính tương tự như định nghĩa được đưa ra bởi ECB. Theo đó thì các đồng tiền ảo này cũng phải thoả mãn các điều kiện: có giá trị như tài sản; không là đồng tiền pháp định do chính phủ ban hành; có thể được dùng để trao đổi, mua bán đối với tài sản, hàng hoá trong thế giới thực. Như vậy, có thể thấy, đến thời điểm hiện nay đã tồn tại có khá nhiều định nghĩa khác nhau về tiền ảo. Tuy nhiên, qua các định nghĩa trên có thể đưa ra một cách hiểu chung nhất về tiền ảo như sau: Tiền ảo là một sản phẩm có giá trị tồn tại dưới hình thức kỹ thuật số được phát hành bởi một cá nhân hoặc tổ chức, không phải là đồng tiền pháp định do chính phủ của một quốc gia phát hành, có giá trị sử dụng trong cộng đồng mạng hoặc có thể được sử dụng để thực hiện việc trao đổi, thanh toán với các loại hàng hoá, dịch vụ khác.
Khái niệm về Blockchain Công nghệ Blockchain tuy chỉ mới được tạo ra trong khoảng gần hai thập kỷ gần đây nhưng nó được nhiều quốc gia, chính phủ, các tổ chức, cá nhân trên thế giới xem là một trong những phát minh vĩ đại nhất kể từ khi xuất hiện mạng Internet. Nhiều tổ chức, cá nhân còn tuyên bố rằng công nghệ này sẽ thay đổi mọi ngành công nghiệp hiện thời và ảnh hưởng tới cuộc sống tương lai của mọi người chỉ trong vài thập kỷ tới. Vậy liệu công nghệ Blockchain thực sự là một trong những cuộc cách mạng, phát minh công nghệ vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của Internet hay chỉ là sự cường điệu quá mức. Sau đây, hãy cùng tác giả tìm hiểu, phân tích về khái niệm Blockchain và tính ứng dụng cũng như tầm quan trọng của công nghệ này trong cuộc 11 Nguyễn Minh Oanh, “Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về tiền ảo trong bối cảnh hội nhập và phát triển”, NXB Tư pháp năm 2019, trang 20 12 Nguyễn Minh Oanh, “Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về tiền ảo trong bối cảnh hội nhập và phát triển”, NXB Tư pháp năm 2019, trang 20 12 sống hiện nay để xem tại sao rất nhiều các quốc gia cũng như các tổ chức lớn đang rất quan tâm đến công nghệ này.
Đầu tiên cần tìm hiểu khái niệm Blockchain là gì? Blockchain hay còn được gọi là công nghệ chuỗi khối có thể hiểu là: “Một cơ chế cơ sở dữ liệu tiên tiến cho phép chia sẻ thông tin minh bạch trong một mạng lưới kinh doanh. Cơ sở dữ liệu chuỗi khối lưu trữ dữ liệu trong các khối được liên kết với nhau trong một chuỗi. Dữ liệu có sự nhất quán theo trình tự thời gian vì bạn không thể xóa hoặc sửa đổi chuỗi mà không có sự đồng thuận từ mạng lưới. Do đó, bạn có thể sử dụng công nghệ chuỗi khối để tạo một sổ cái không thể chỉnh sửa hay biến đổi để theo dõi các đơn đặt hàng, khoản thanh toán, tài khoản và những giao dịch khác.
Hệ thống có những cơ chế tích hợp để ngăn chặn các mục nhập giao dịch trái phép và tạo ra sự nhất quán trong chế độ xem chung của các giao dịch này.