CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới 1. Lịch sử nghiên cứu về giáo dục hướng nghiệp Giáo dục hướng nghiệp (GDHN) đã bắt đầu phát triển từ những năm đầu của thế kỷ 19 và liên quan chặt chẽ đến sự phát triển giáo dục ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Tuy nhiên, từ những năm 1776, các nhà nghiên cứu đã nhận ra sự quan trọng của GDHN. Trong cuốn sách The Wealth of Nations (tạm dich: Của cải của Quốc gia), tác giả Adam Smith đã chỉ ra rằng việc đào tạo nghề bài bản là vô cùng cần thiết, đây là hình thức thay thế cho các phường hội phong kiến, giúp đất nước phát triển [28]. Tại các quốc gia trên thế giới, nghiên cứu về GDHN chủ yếu xoay quanh việc nghiên cứu về các mô hình trường nghề, hình thức tổ chức và hiệu quả của trường nghề trong định hướng nghề nghiệp cho người học. Tại Úc, hệ thống GDHN bao gồm việc học nghề truyền thống và học nghề dịch vụ.
Thời gian học tại trường thường kéo dài từ ba đến bốn năm. GDHN tại Úc đề cao tính linh hoạt và cá nhân hóa trong việc cung cấp dịch vụ hứng nghiệp. Chính phủ và các cơ quan liên quan cam kết xây dựng một hệ thống GDHN hiệu quả để hỗ trợ cho HS và người đi làm [45]. Giáo dục hướng nghiệp trong các nhà trường ở Úc là một quá trình phát triển kĩ năng, kiến thức và quan điểm cho học sinh thông qua chương trình học đã được hoạch định trước.
Các thành phần chính của giáo dục hướng nghiệp bao gồm: Học về bản thân trong công việc: Học sinh được khuyến khích tìm hiểu về bản thân, khám phá sở thích, năng lực và giá trị cá nhân liên quan đến công việc. Điều này giúp họ có cái nhìn rõ ràng về bản thân và định hướng nghề nghiệp phù hợp. Học về thế giới việc làm: Học sinh được cung cấp thông tin về các ngành nghề, xu hướng việc làm, và yêu cầu kỹ năng của các ngành nghề khác nhau. Họ được khuyến khích nghiên cứu và hiểu về thị trường lao động để có sự lựa chọn nghề nghiệp thông minh.
8 Học lập kế hoạch và quyết định nghề nghiệp: Học sinh được hỗ trợ trong việc xây dựng kế hoạch nghề nghiệp và đưa ra các quyết định liên quan. Các hoạt động như thảo luận, tư vấn và tổ chức sự kiện có thể được sử dụng để giúp học sinh nắm bắt mục tiêu và lộ trình nghề nghiệp của mình. Thực thi các quyết định nghề nghiệp và vượt qua các giai đoạn chuyển đổi việc làm: Học sinh được hỗ trợ trong quá trình chuẩn bị và thực thi các quyết định nghề nghiệp, cũng như vượt qua các giai đoạn chuyển đổi trong sự nghiệp. Họ có thể được giúp đỡ trong việc tìm kiếm việc làm, phỏng vấn và phát triển các kỹ năng cần thiết để thành công trong sự nghiệp [46].
Tại Anh, HS trên 16 tuổi được lựa chọn học tập tại các trường nghề, hoặc học tập tại các trường đại học có ngành đào tạo liên quan tới nghề nghiệp hướng tới. Giáo dục hướng nghiệp tại Anh nhằm hỗ trợ sự phát triển toàn diện của học sinh, bao gồm cả các khía cạnh học thuật, nghề nghiệp và kỹ năng sống. Nó tập trung vào việc phát triển nhận thức bản thân, khả năng lựa chọn nghề nghiệp và kỹ năng cần thiết cho sự thành công trong cuộc sống và công việc [42]. Nghiên cứu của Josie và cộng sự chỉ ra rằng, trong năm 2003, ba lĩnh vực học tập phổ biến nhất với sinh viên toàn thời gian là y tế, chăm sóc xã hội và dịch vụ công (15,3%); công nghệ thông tin (8%); nghệ thuật trình diễn và nghệ thuật thị giác, truyền thông (8%).
Năm 2002, chính phủ Anh đã đưa ra 05 nguyên tắc chính để hướng dẫn dịch vụ đào tạo định hướng nghề nghiệp cho thanh niên lứa tuổi 16-19 tuổi. Nghiên cứu của OECD tại Na Uy cho thấy, học sinh tốt nghiệp THCS tại quốc gia này tiếp tục học lên THPT. Một nửa số đó lựa chọn một trong chín chương trình dạy nghề. Chương trình dạy nghề gồm 02 năm học tại trường và 02 năm học việc tại một công ti.
Năm đầu tiên, HS được cung cấp giáo dục phổ thông với những kiến thức cơ bản và kiến thức chuyên môn về lĩnh vực nghề nghiệp. Từ năm thứ 2, các khóa học cụ thể hơn về lĩnh vực lựa chọn [41]. GDHN tại Mỹ nhấn mạnh vào tính bền vững và liên tục của sự nghiệp, khuyến khích học sinh phát triển kỹ năng sẵn sàng cho việc thích ứng với thay đổi và phát triển sự nghiệp suốt đời [43]. Hệ thống giáo dục hướng nghiệp tại Mỹ có sự tham gia 9 chủ động của các nhà tư vấn hướng nghiệp chuyên nghiệp.
Những nhà tư vấn này cung cấp hỗ trợ và tư vấn cá nhân cho học sinh, giúp họ khám phá bản thân, nghiên cứu về các lĩnh vực nghề nghiệp và lựa chọn phù hợp [43]. Lịch sử nghiên cứu về tích hợp giáo dục hướng nghiệp Tại Pháp các trường đều chú trọng đến GDHN qua dạy môn Công nghệ, Khoa học và Kinh tế. Cụ thể, trong môn Công nghê, GDHN đặt trong tâm vào việc chuẩn bị học sinh để sẵn sàng tham gia vào thị trường lao động. HS cần thực hiện các hoạt động thực tế, nghiên cứu dự án, thực tập để học sinh áp dụng kiến thức vào thực tế nghề nghiệp.
Trong môn Khoa học, GV luôn tạo liên kết giữa kiến thức khoa học và ứng dụng thực tế trong các lĩnh vực nghề nghiệp, khuyến khích học sinh tham gia vào các hoạt động nghiên cứu, thí nghiệm và dự án với mục tiêu ứng dụng khoa học vào thực tiễn nghề nghiệp [46]. Ở Đức, các công trình nghiên cứu đã phân tích tầm quan trọng của tích hợp GDHN trong các môn học như Kinh tế, Công nghệ. Việc đưa ra các kiến thức chuyên ngành đồng thời tổ chức các dự án, thực tập để học sinh áp dục kiến thức vào thực tế nghề nghiệp là vô cùng quan trọng [47]. Ở Hoa Kỳ, hướng nghiệp được tiến hành khá sớm, từ bậc tiểu học.
Ở bậc THPT, HS lớp 12 phải xác định rõ nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp, hiểu về cách thức gia nhập giáo dục bậc cao hơn và tiếp cận với thế giới nghề nghiệp, các em được khuyến khích thực tập, làm thêm, … ngay sau khi kết thúc lớp 12 để có cơ hội trải nghiệm nghề nghiệp. Đây cũng là một trong những phương pháp giúp HS nhanh chóng thích nghi với bước chuyển đổi từ phổ thông lên các bậc học cao hơn hoặc ra thị trường lao động. Hệ thống các thông tin nghề nghiệp được cung cấp trực tuyến cho HS, phụ huynh và các nhà giáo dục trên phạm vi rộng, trên website. Kế hoạch nghề nghiệp bao gồm 1000 cơ hội, được miêu tả cụ thể về từng nghề, sở thích, kĩ năng, năng lực, yêu cầu giáo dục và đầu vào.
HS có thể lựa chọn thông tin về chương trình sau trung học, phạm vi và hình thức đào tạo. HS cũng có thể học về việc chuẩn bị các chương trình và nghiên cứu tài chính. Đội ngũ GV giảng dạy, tư vấn trong GDHN ở Hoa Kỳ phải đáp ứng các tiêu chuẩn nhất định, được quy định bởi từng bang ở Hoa Kỳ (Bằng 10 cấp, kinh nghiệm giảng dạy, lĩnh vực giảng dạy, …). Hiện nay, xu hướng chính trong hệ thống giáo dục trung học ở Hoa Kỳ là kết hợp giữa giáo dục văn hóa và giáo dục nghề.
Các mô hình giáo dục trung học ở đây rất đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng của từng học sinh, cũng như mang lại lợi ích cho cả cộng đồng. Mục tiêu là tạo ra một quá trình giáo dục linh hoạt và đa chiều, cho phép học sinh phát triển cả kiến thức văn hóa và kỹ năng nghề nghiệp. Qua đó, học sinh có thể tự tin và thành công trong sự nghiệp sau khi tốt nghiệp trung học. Hệ thống giáo dục Phần Lan đặt mục tiêu giáo dục hướng nghiệp là giúp học sinh phát triển những kỹ năng cần thiết để định hình và thực hiện sự lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai.
Trong chương trình giáo dục tiểu học, giáo dục hướng nghiệp được tích hợp thông qua các hoạt động như trò chơi, thảo luận nhóm và quan sát thực tế. Tại cấp trung học, giáo dục hướng nghiệp được tích hợp trong chương trình học thông qua môn học riêng biệt hoặc qua các hoạt động ngoại khóa, hội thảo và hướng dẫn từ các chuyên gia nghề nghiệp [48]. Nhiều tác giả đã nghiên cứu về GDHN, nhiều tài liệu bổ ích phục vụ cho Giáo dục hướng nghiệp liên tục được xuất bản, gần đây là một số cuốn như: Career Counselling (2006) của các tác giả Robert Nathan & Linda Hill đã đề cập cụ thể, chi tiết về công tác tư vấn hướng nghiệp; 50 Best jobs for your Personality (2009) của các tác giả Michael Farr and Laurence Shatkin đã đề cập đến 50 công việc tốt nhất phù hợp với tính cách của các cá nhân; hay như cuốn International Handbook of Career Guidance (2008) của các tác giả James A. Athanasou, Raoul Van Esbroeck như một kim chỉ nam giúp các em lựa chọn nghề,… ; Đồng thời, nhiều quốc gia đã đưa nội dung GDHN vào trong trường phổ thông qua tất cả các cấp học, và dạy dưới nhiều hình thức khác nhau, như coi nó là một môn học, tích hợp với các môn học khác, hoặc qua các hoạt động liên kết giữa nhà trường và các tổ chức xã hội khác nhau,… Điểm qua các nghiên cứu về GDHN, tích hợp GDHN hay việc phát triển GDHN trên thế giới, tác giả thấy rằng, xu hướng chung của nhiều nước trên thế giới khá coi trọng GDHN cho HS, xem nó như một hoạt động tạo nguồn nhân lực mới cho xã 11 hội.
Các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này; GDHN cũng đã được đưa vào trường học như một hoạt động, hoặc một môn học, hoặc tích hợp vào môn văn hóa - đặc biệt là môn Công nghệ, Kinh tế, …Tùy theo yêu cầu và mục tiêu giáo dục phổ thông của từng nước mà mức độ, nội dung, phương pháp tiến hành GDHN có sự khác nhau giữa các quốc gia. Nhưng các nước đều khá quan tâm đến việc cung cấp các kiến thức về GDHN cho HS dưới mọi hình thức, đặc biệt là trong giáo dục ở trường phổ thông, trong việc tích hợp vào môn Công nghệ; nhiều công trình nghiên cứu, viết nhiều bài báo, nhiều trang wed đề cập đến vấn đề này ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tuy vậy, các nghiên cứu sâu về tích hợp GDHN trong một môn học cụ thể, tác giả chưa tìm thấy nhiều. Tại Việt Nam 1.