CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Tìm hiểu một cách tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài là việc làm rất cần thiết, giúp hiểu rõ được vùng nghiên cứu, các phương pháp đã được nghiên cứu, cũng như là cơ sở lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu nhằm lựa chọn phương pháp thích hợp ứng dụng vào đề tài. Do đó, trong chương trình này tôi tập trung tìm hiểu về các vấn đề: Tổng quan vùng nghiên cứu Tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Cơ sở lý thuyết có liên quan đến vấn đề nghiên cứu 1.1 TỔNG QUAN VÙNG NGHIÊN CỨU 1.1 Điều kiện tự nhiên 1.1 Vị trí địa lý KLTN Thông tin địa lý Chơn Thành là huyện nằm về phía Tây Nam của tỉnh Bình Phước, có diện tích tự nhiên 38.983,68 ha bằng 5,66% diện tích tỉnh Bình Phước, với dân số trung bình năm 2010 là 67.330 người, mật độ dân số là 173 người/km2. Tọa độ địa lý: Từ 106o 32’37’’ đến 106o46’19’’ kinh độ Đông, từ 11o 21’5’’ đến 11o 36’13’’ vĩ độ Bắc.
Huyện có ranh giới hành chính tiếp giáp với tỉnh, thị xã và các huyện sau (Hình 1.1): Phía Bắc giáp huyện Hớn Quản. Phía Đông giáp huyện Đồng Phú, thị xã Đồng Xoài và tỉnh Bình Phía Nam giáp tỉnh Bình Dương Phía Tây giáp huyện Hớn Quản và tỉnh Bình Dương 1.2 Địa hình, địa chất a. Địa hình Chơn Thành là một huyện miền núi, nhưng có địa hình tương đối bằng so với các huyện miền núi khác trong cả nước, thuận lợi cho sử dụng đất nói chung và sản xuất nông nghiệp nói riêng. Thống kê diện tích theo địa hình cho thấy: Toàn huyện đều có độ dốc < 15 o, rất thuận lợi cho sử dụng đất, trong đó địa hình < 3 o có 37.
3 KLTN Thông tin địa lý Hình 1.1 Sơ đồ vị trí huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước b. Địa chất Huyện Chơn Thành khá đồng nhất về thành phần đá mẹ và mẫu chất tạo đất, trên địa bàn Huyện có 2 loại mẫu chất, đá mẹ tạo đất là mẫu chất phù sa cổ và đá bazan: Mẫu chất phù sa cổ: Mẫu chất phù sa cổ có tuổi Pliestocene, bao phủ gần 90% diện tích lãnh thổ. Các loại đất hình thành trên phù sa cổ phần lớn thuộc nhóm đất xám (Acrisols), đất này tuy có chất lượng không cao nhưng rất đa dạng về các loại hình sử dụng đất, kể cả các cây lâu năm như cao su, cây ăn trái, tiêu, điều…và các cây hàng năm khác như lúa, khoai mì, bắp, mía, đậu đỗ các loại… Đá bazan: Đá bazan bao phủ khoảng 10% diện tích lãnh thổ, phân bố chủ yếu ở hai xã Minh Lập và Quang Minh. Các đất hình thành trên đá bazan là nhóm đỏ 4 vàng (Ferralsols), loại đất này có chất lượng tốt nhất trong các loại đất đồi núi ở nước ta, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cao su, tiêu, điều, cà phê, cây ăn trái….và cả những cây hàng năm.3 Khí hậu Khí hậu huyện Chơn Thành mang đặc thù khí hậu nhiệt đới gió mùa, đặc điểm khí hậu điển hình có ảnh hưởng đến sử dụng đất nông nghiệp cụ thể như sau: Bức xạ mặt trời cao so với cả nước và phân bố khá đều trong năm, thuận lợi cho cây trồng phát triển quanh năm.
Lượng mưa tương đối cao và phân thành hai mùa rõ rệt: Chơn Thành nằm trong vành đai có lượng mưa cao nhất vùng Đông Nam Bộ, lượng mưa bình quân 2.315mm, phân hoá thành hai mùa: mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 11) và mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau). Lượng mưa phân hoá theo mùa đã chi phối mạnh mẽ đến sản xuất nông nghiệp: Là một Huyện đầu nguồn, mà khả năng cung cấp nước tưới cho nông nghiệp rất KLTN Thông tin địa lý khó khăn, chưa đầy 10% diện tích đất nông nghiệp có tưới, vì vậy trong sản xuất nông nghiệp cần phải chọn và đưa vào sử dụng những loại hình sử dụng đất ít hoặc không cần nước tưới như: Cao su, điều, một số cây ăn trái, mì….4 Tài nguyên đất Tài nguyên đất của huyện Chơn Thành có 3 nhóm, với 06 đơn vị bản đồ đất (Bảng 1. Nhóm đất xám Nhóm đất xám có 35.303 ha, chiếm 90,56% diện tích tự nhiên (DTTN). Phân bố ở tất cả các xã: Minh Hưng 6.349 ha; Minh Long 3.681,8 ha; Minh Thắng 3.325 ha; Minh Thành 4.993,2 ha; Nha Bích 4.969 ha; Minh Lập 2.381 ha; Quang Minh 2328 ha và TT Chơn Thành 6.
Nhóm đất xám có những đặc điểm cụ thể sau: Nhóm đất xám hình thành chủ yếu trên mẫu chất phù sa cổ (Pleistocene) nghèo kiềm và thường có thành phần cơ giới nhẹ. Do đặc điểm địa hình và chế độ nước, ở đây đất xám được tách thành 02 đơn vị bản đồ: (i) Đất xám điển hình trên phù sa cổ và (ii) Đất xám gley. 5 Đất xám thường có thành phần cơ giới nhẹ đến trung bình, chua, CEC, Cation kiềm trao đổi và BS thấp; nhìn chung nghèo mùn, đạm, lân và kali. Đất xám tuy có độ phì không cao nhưng nó thích hợp với nhiều loại hình sử dụng đất, kể cả các đất xây dựng, nông nghiệp và lâm nghiệp.
Trong nông nghiệp các loại hình sử dụng đất rất phong phú kể cả các cây dài ngày (cao su, cà phê, tiêu, điều…), cây ăn quả và nhiều loại cây hàng năm. Nhóm đất đỏ vàng Nhóm đất đỏ vàng có 3. Nó được hình thành trên đá bazan và mẫu chất phù sa cổ. Trong phần này tính chất các đơn vị đất được trình bày theo các đá mẹ và mẫu chất hình thành đất.
Đất nâu đỏ và nâu vàng trên bazan: có 1.925 ha, chiếm 4,94% DTTN. Phân bố ở 2 xã: Quang Minh 684 ha; Minh Lập 1. - Đất nâu đỏ và nâu vàng trên bazan nhìn chung có thành phần cơ giới nặng, cấu tượng viên hạt, tơi xốp, thành phần cơ giới thịt pha sét tới sét, cấp hạt sét KLTN Thông tin địa lý chiếm đến 45-55%. Đất thường chua, CEC, cation kiềm trao đổi và độ no bazơ thấp, giàu mùn, đạm, lân tổng số và nghèo kali.
- Đất đỏ nhìn chung có độ phì tương đối cao, nó thích hợp với nhiều loại cây trồng có giá trị kinh tế cao. Tuy vậy khả năng sử dụng của đất này phụ thuộc rất nhiều vào độ dày tầng đất hữu hiệu. (i) Các đất có tầng hữu hiệu dày nên giành cho việc trồng các cây dài ngày có giá trị kinh tế cao như cao su, tiêu và các cây ăn trái. (ii) Các đất có tầng hữu hiệu mỏng giành cho việc trồng cây hàng năm như các loại đậu đỗ, bắp, hoa màu khác, trên đất này có thể trồng được các cây dài ngày như cây điều.
Đất nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): Đất nâu vàng trên phù sa cổ có 1.231 ha, chiếm 3,16% DTTN. Phân bố ở hai xã: Minh Lập 972 ha và Minh Thắng 259 ha. - Đất có thành phần cơ giới từ trung bình đến nhẹ; đất chua, CEC, Cation kiềm trao đổi và BS thấp; nghèo mùn, đạm, lân và kali. - Đất nâu vàng trên phù sa cổ tuy có độ phì không cao nhưng nó thích hợp với nhiều loại hình sử dụng đất, kể cả các đất xây dựng, nông nghiệp và lâm 6 nghiệp.
Trong nông nghiệp các loại hình sử dụng đất rất phong phú kể cả các cây dài ngày (cao su, cà phê, tiêu, điều…), cây ăn quả và nhiều loại cây hàng năm. Nhóm đất dốc tụ Đất dốc tụ có 150,41 ha, chiếm 0,39% DTTN. Đất hình thành ở địa hình thung lũng, trên các sản phẩm bồi tụ từ các khu vực đồi núi cao xung quanh. Nhìn chung các đất dốc tụ có độ phì nhiêu tương đối khá, nhưng chua.
Địa hình thấp trũng, khó thoát nước, nên chỉ có khả năng sử dụng cho việc trồng các cây hàng năm như lúa, hoa màu lương thực.1 Phân loại đất huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước TÊN ĐẤT DIỆN TÍCH KÝ Tên tương đương Theo phân loại Việt Nam HIỆU (ha) (%) FAO/ WRB 1.1 Đất xám trên phù sa cổ tin địa lýX Haplic Acrisols 32484,00 83,33 1.2 Đất xám glây Gleyic Acrisols Xg 2 19,47 7,23 2. Nhóm đất đỏ vàng 3.1 Đất nâu đỏ trên bazan Rhodi Ferrlsols Fk 38,00 0,10 2.2 Đất nâu vàng trên baza Xanthic Feralsols Fu 1887,00 4,84 2.3 Đất nâu vàng trên phù sa cổ Chromi-Haplic Acrisols Fp 1. Đất dốc tụ Cumulic Gleysols D 150,41 0,39 4. Sông, suối 73,80 0,06 TỔNG DIỆN TÍCH 38.5 Tài nguyên nước a.
Tài nguyên nước mặt Huyện Chơn Thành cùng với huyện Hớn Quản, Thị xã Bình Long và tỉnh Bình Dương nằm kẹp giữa 02 con sông lớn là Sông Bé và sông Sài Gòn, thuộc hệ thống sông Đồng Nai, cụ thể như sau: Sông Bé chạy dọc theo trung tâm tỉnh Bình Phước theo hướng Bắc-Nam, chảy qua các huyện Phước Long, huyện Hớn Quản, Chơn Thành, Đồng Phú và chảy về tỉnh Bình Dương. Trên dòng Sông Bé đã quy hoạch 04 công trình thủy điện và thủy lợi lớn theo 04 bậc thang: Thủy điện Thác Mơ, Cần Đơn, Srok Phú Miêng và Phước Hòa. Hiện nay công trình thủy điện Thác Mơ, Cần Đơn và Phú Miêng đã đưa vào sử dụng. Sông Sài Gòn là ranh giới giữa tỉnh Bình Phước với tỉnh Tây Ninh.
Trên sông này đã hình thành hồ Dầu Tiếng, một hồ tưới lớn nhất vùng Đông Nam Bộ. Hồ Phước Hoà là công trình thủy lợi nằm trên địa bàn huyện Chơn Thành và KLTN Thông tin địa lý Phú Giáo thuộc tỉnh Bình Dương, diện tích hồ Phước Hòa trên địa bàn huyện Chơn Thành là 1510,94 ha; đây là công trình đang trong giai đoạn thi công. Ngoài ra trên địa bàn huyện Chơn Thành còn có hệ thống suối lớn như: suối Sa Cát, suối Đông, suối Bà Và, suối Tham Rớt… Nhìn chung hệ thống sông suối huyện Chơn Thành tương đối nhiều với mật độ khoảng 0,7 - 0,8 km/km2. Nhưng sông suối trong vùng có lòng sông hẹp, dốc, lũ lớn trong mùa mưa và khô kiệt trong mùa khô.
Muốn sử dụng được nguồn nước này cho sản xuất cần có những đầu tư lớn vào các công trình thủy lợi. Tài nguyên nước ngầm Nước ngầm trong huyện có các tầng chứa nước sau: Tầng chứa nước Bazan (QI-II) phân bố ở các xã Minh Lập, Quang Minh, lưu lượng tương đối khá 0,5-16 lít/s. Tuy vậy, do biến động lớn về tính thấm nên tỷ lệ khoan khai thác nước không cao. Tầng chứa nước Pleistocene (QI-III), phân bố ở hầu khắp các xã trong huyện.
Đây là tầng chứa nước có trữ lượng khá lớn và chất lượng tốt.