Chương 1: cơ sở lí luận của việc tổ chức dạy học chủ đề tích hợp nhằm bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề Chương 2: Thiết kế tiến trình hoạt động dạy học chủ đề tích hợp “Điện thế sinh vật” Chương 3: Thực nghiệm sư phạm 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP NHẰM BỒI DƢỠNG NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO SINH VIÊN 1.1 Dạy học định hƣớng phát triển năng lực 1.1 Khái niệm năng lực Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cũng như công luận giáo dục. Theo Xavier Roegiers: “Năng lực là sự tích hợp các kĩ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do tình huống này đặt ra” [16. 91] Các nhà tâm lí học cho rằng năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lí cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo hoạt động đó đạt hiệu quả cao. 57] Các cách hiểu này có sự tương đồng với khái niệm về năng lực được Bộ Giáo dục và đào tạo đưa ra tại “Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông tổng thể 2015” trong thời kì giáo dục nước nhà đang trong giai đoạn đổi mới căn bản và toàn diện từ giáo dục kiến thức sang giáo dục năng lực.
“Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể. 32] Tựu chung lại, có thể định nghĩa năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và trách nhiệm một vấn đề trong một bối cảnh nhất định bằng cách huy động tất cả kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm với thái độ sẵn sàng tham gia. Từ những khái niệm về năng lực ở trên có thể chỉ ra các đặc điểm của năng lực như sau: - Năng lực là một hệ thống thuộc tính của cá nhân: năng lực không là một thuộc tính riêng biệt nào đó của cá nhân mà bao gồm nhiều thuộc tính, đặc điểm về tâm lí và sinh lí.
Tuy nhiên, cần nhấn mạnh năng lực không phải là tất cả các thuộc tính mà chỉ gồm những thuộc tính. Tùy vào từng hoạt động trong một ngữ cảnh, 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một tình huống nhất định thì các thuộc tính được bộc lộ và đòi hỏi hoạt động có kết quả. Sự kết hợp một cách hệ thống không chỉ là sự cộng gộp mà còn chứa đựng sự tác động qua lại của các thuộc tính. - Năng lực chỉ tồn tại trong hoạt động: Mỗi hoạt động là môi trường để các thuộc tính của năng lực bộc lộ.
Khi chưa có hoạt động, năng lực trong mỗi con người còn tiềm ẩn. - Các hoạt động được thực hiện là quá trình bộc lộ năng lực (thuộc tính của năng lực). Kết quả công việc là kênh thông tin để đánh giá năng lực mỗi cá nhân. Tuy nhiên, năng lực trong mỗi cá nhân không phải bẩm sinh mà nó cần được hình thành và phát triển trong quá trình hoạt động và giao tiếp.2 Cấu trúc năng lực Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng.
Có nhiều cách mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực khác nhau. Một trong những cách đó là mô tả cấu trúc của năng lực là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể. 17] - Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn. Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động.
- Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề. Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn. Trung tâm của phương pháp nhận thức là những khả năng tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề.
- Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm.
Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau. Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng mô tả các loại năng lực khác nhau. Ví dụ năng lực của GV bao gồm những nhóm cơ bản sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực chẩn đoán và tư vấn, năng lực phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học. Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theo UNESCO: Các thành phần năng lực Các trụ cột giáo dục của UNESO Năng lực chuyên môn Học để biết Năng lực phương pháp Học để làm Năng lực xã hội Học để cùng chung sống Năng lực cá thể Học để tự khẳng định Hình 1.1: Bốn thành phần năng lực phù hợp với bốn trụ cốt giáo dục theo UNESCO Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể.
Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.2 Dạy học bồi dƣỡng năng lực giải quyết vấn đề 1. Khái niệm năng lực giải quyết vấn đề Năng lực GQVĐ là một trong những năng lực cơ bản cần thiết cho mỗi cá nhân để tồn tại trong xã hội hiện đại.
Sự hình thành năng lực này là rất cần thiết. Theo định nghĩa trong đánh giá PISA (2012), năng lực GQVĐ là năng lực của một cá nhân tham gia vào quá trình nhận thức để hiểu và giải quyết các tình huống có vấn đề mà phương pháp của giải pháp đó không phải ngay lập tức nhìn thấy rõ ràng. Nó bao gồm sự sẵn sàng tham gia vào các tình huống tương tự để đạt được tiềm năng của mình như một công dân có tính xây dựng và biết suy nghĩ. 15] Theo tác giả Nguyễn Lâm Đức (2016), vấn đề trong dạy học Vật lí là nhiệm vụ nhận thức/ bài toán nhận thức mà chủ thể (người học, đối tượng tiếp thu.) chưa biết con đường giải quyết cũng như kết quả giải quyết nhiệm vụ, chủ thể có sẵn kiến thức, kĩ năng thích hợp và có nhu cầu giải quyết.
GQVĐ nhận định theo nghĩa thông thường là thiết lập những phương pháp thích ứng để giải quyết những khó khăn, trở ngại. Như vậy, GQVĐ trong học tập Vật lí là người học huy động kiến thức, kĩ năng, kinh nghiệm đã có thực hiện thao tác tư duy lí thuyết và thực hành để tìm câu trả lời cho vấn đề, qua đó người học thu nhận được kiến thức, kĩ năng mới. Tác giả cũng đưa ra khái niệm về năng lực GQVĐ của người học trong học tập Vật lí là «tổ hợp các năng lực thành tố cho phép người học huy động kiến thức, kĩ năng thích hợp với thái độ tích cực giải quyết thành công nhiệm vụ nhận thức, lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng và phương pháp mới. 265] Qua đó, có thể thấy năng lực GQVĐ là khả năng cá nhân sử dụng có hiệu quả các kiến thức, kĩ năng cùng với thái độ sẵn sàng tham gia để giải quyết một vấn đề cụ thể mà chưa tìm được rõ ràng phương pháp giải quyết ngay lập tức để trở thành công dân có tinh thần xây dựng và tự duy phê phán.
Vấn đề mà người học được đặt vào để giải quyết có thể được đặt vào trong bối cảnh thực hoặc giả định. Trong trường hợp bối cảnh thực, vấn đề cần giải quyết có thể được gọi là vấn đề thực tiễn. Cấu trúc của năng lực giải quyết vấn đề Xuất phát từ định nghĩa năng lực GQVĐ và mục tiêu đổi mới giáo dục sau năm 2017 ta có thể xác định các hợp phần của năng lực GQVĐ như sau: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tìm hiểu vấn đề: Phân tích được các tình huống trong học tập (quan sát, mô tả hiện tượng); Phát hiện/xác định được vấn đề trong tình huống và chuyển vấn đề thực tiễn thành dạng có thể khám phá, giải quyết (bài toán khoa học). - Giải quyết vấn đề: Thu thập, phân tích thông tin liên quan đến vấn đề; đưa ra phương án giải quyết; lựa chọn phương án tối ưu nhất và giải thích sự lựa chọn đó; thực hiện theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề; đề xuất phương án mới có thể thực hiện để giải quyết vấn đề và điều chỉnh hành động của bản thân.
- Trình bày kết quả và đánh giá việc thực hiện giải pháp: Trình bày kết quả của quá trình thực hiện giải pháp; đánh giá giải pháp và quá trình thực hiện giải pháp để rút kinh nghiệm cho việc giải quyết các vấn đề khác; kết luận về kiến thức học được từ vấn đề. Trong mỗi hợp phần thì bao gồm các thành tố và mỗi thành tố thì được biểu hiện bởi các chỉ số hành vi được mô tả bằng các tiêu chí chất lượng. Cấu trúc của năng lực GQVĐ được mô tả bằng bảng 1.