CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA PHÁP LUẬT VE DUA THUYEN VIÊN VIỆT NAM ĐI LAM VIỆC TREN TAU BIEN NƯỚC NGOÀI 1. Những van đề chung về hoạt động đưa thuyền viên di làm việc trên tàu biển nước ngoài 1. Khái niệm hoạt động đưa thuyền viên đi làm việc trên tàu biển nước ngoài Thuật ngữ “nguồn lực con người” hay “nguồn nhân lực” được bắt đầu sử dụng vào những thập niên 60 của thế kỷ XX ở các nước phương Tây và một số nước châu A. Có thé nói, đây là thời kỳ đánh dấu sự nhảy vot trong nhận thức về vai trò, vi tri của con người trong sự phát triển Kinh tế - Xã hội, khi mà có sự thay đổi căn bản về phương thức quản lý, sử dụng con người trong kinh tế lao động.
Từ chỗ con người được xem là công cụ lao động đã trở thành nhân tố quyết định hàng đầu. Ngày nay thuật ngữ này được sử dụng phổ biến và thé hiện tính khoa học rất cao trong việc chi ra nguồn lực con người cả về số lượng, chất lượng và tam quan trọng trong sự phát triển Kinh tế - Xã hội. Ở Việt Nam từ năm 90 của thế kỷ XX đến nay thuật ngữ nguồn nhân lực được các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, nghiên cứu sâu và được sử dụng rộng rãi. Tuy thuật ngữ “nguồn nhân lực” trong thực tế được dùng khá phổ biến, nhưng lại có khá nhiều quan niệm khác nhau: Theo quan niệm của tổ chức Lao động quốc tế, nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động.
Quan niệm này được hiểu theo hai nghĩa: 1) Nghĩa rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho phát triển, do đó nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường; 2) Nghĩa hẹp, nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động - sản xuất, tức là toàn bộ các cá nhân có thé tham gia vào quá trình lao động, là tong thé các yếu tố về thé lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Đây là khái niệm dé chỉ ra quy 11 mô và tiềm lực của một quốc gia đánh giá về khả năng tham gia hoạt động kinh tế để tạo ra tài sản cho xã hội của nguồn nhân lực trong quá trình sinh sống và xây dựng đất nước. Dé phát triển từng ngành rất cần phải có nguồn nhân lực phù hợp. Nguồn nhân lực của một ngành là toàn bộ những người lao động và những người tương lai có khả năng tham gia lao động trong ngành đó.
Vận tải biển là một ngành đặc thù, cũng cần nguồn nhân lực riêng. Đối với ngành vận tải biên, thuyền viên là bộ phận nòng cốt đặc biệt quan trọng trong việc quản lý, bảo dưỡng và vận hành an toàn tàu. Mặc dù hoạt động vận tải biển có nguồn gốc hình thành từ lâu và phát triển với tốc độ rất nhanh, nhưng đến nay khái niệm “thuyền viên” còn được hiểu rất khác nhau. Có khá nhiều từ dùng để chỉ khái niệm thuyền viên trong ngôn ngữ của nhiều quốc gia như sailor, mariner, salt, seaman, navigator hay seafarer.
Theo đó, thuyền viên được hiểu như là những thủy thu, là những người phục vu dưới tàu quân sự, người làm việc trên tàu chở hàng hay người vận hành thuyền buồn. Ngày nay, danh từ được dùng phô biến trên thế giới, dé chỉ thuyền viên là seafarer. Seafarer có nguồn gốc từ một bài thơ cô của Anh, ké về một người dan ông sống một mình dài ngày trên biển. Như vậy, khái niệm seafarer dùng diễn tả một người sống cuộc đời đi biến.
Cũng có quan điểm cho rằng, thuyền viên là một nghề nghiệp làm việc trên trên một con tàu biên, là một thành viên của phi hành đoàn có chức danh dưới cấp sĩ quan. Trong Công ước số 45 năm 1976 (Công ước về tính liên tục của việc làm cho thuyền viên), thì thuật ngữ “thuyền viên” có nghĩa là những người được luật pháp hoặc thực tiễn của quốc gia hoặc thỏa thuận tập thé, coi là những người được thuê mớn với tư cách là những thành viên thủy thủ đoàn trên tàu đi biển, khác với tàu chiến; tàu dành cho việc đánh bắt cá hoặc những hoạt động trực tiếp gắn với việc đó hoặc cho việc săn bắt cá voi hoặc các mục đích tương tự. Thông tư số 23/2017/TT-BGTVT, ngày 28 tháng 7 năm 2017, của Bộ trưởng Bộ Giao thông Vận tải quy định về chức danh, nhiệm vu theo chức danh 12 của thuyền viên và đăng ký thuyền viên làm việc trên tàu biển Việt Nam, thì thuyền viên được định nghĩa: Chức danh của thuyền viên trên tàu biển Việt Nam bao gồm: thuyền trưởng, đại phó, sỹ quan boong (phó hai, phó ba), máy trưởng, máy hai, sỹ quan máy (máy ba, máy tư), thuyền phó hành khách, sỹ quan thông tin vô tuyến, sỹ quan kỹ thuật điện, sỹ quan an ninh tàu biển, sỹ quan máy lạnh, thủy thủ trưởng, thủy thủ phó, thủy thủ trực ca, thợ máy chính, thợ máy trực ca, thợ kỹ thuật điện, nhân viên thông tin vô tuyến, quan tri, bac sỹ hoặc nhân viên y té, phuc vu vién, bép trưởng, cấp dưỡng, tổ trưởng phục vụ hành khách, nhân viên phục vụ hành khách, tô trưởng phục vụ bàn, nhân viên phục vụ bàn, quản lý kho hành lý, thợ giặt là, kế toán, thủ quỹ, nhân viên bán hàng, nhân viên bán vé, trật tự viên, thợ máy lạnh và thợ bơm [14]. Như vậy có thê hiểu thuyền viên là những người được đảo tạo huấn luyện và được cấp chứng chỉ theo Công ước STCW78 sửa đổi 2010; với từng chức danh khác nhau sẽ áp dụng các tiêu chuẩn tương ứng.
Những người đi lao động xuất khâu nói chung, thường được quốc tế gọi băng thuật ngữ “migrant worker — lao động di cư”. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc đi cư lao động quốc tế, nhưng lý do chủ yếu là kinh tế. Di cư lao động quốc tế thường diễn ra dưới hai hình thức, đó là di cư tự do và di cư có tô chức. Di cư lao động quốc tế có tổ chức gọi là xuất khẩu lao động, có sự can thiệp, quản lý của Chính phủ các nước.
Xét về nghề nghiệp, đối tượng thuyền viên đi làm việc trên tàu biển nước ngoài cũng được coi là lao động di cư. Thuyền viên đáp ứng yêu cầu xuất khẩu lao động hay nói cách khác thuyền viên đáp ứng yêu cầu của chủ tàu nước ngoài là một bộ phận của đội ngũ thuyền viên quốc gia nói chung và cần có một số yêu cầu nhất định của chủ tầu như có kỹ năng tốt có ý thức, có đủ sức khỏe đặc biệt là có trình độ ngoại ngữ khá. và quan trọng hơn là pháp luật cho phép xuất cảnh, cho phép đi làm việc có thời hạn trên các tàu biên nước ngoài. 13 Theo phân tích như trên, có thé đưa ra định nghĩa về thuyền viên đi làm việc trên tàu biển nước ngoài như sau: “Thuyên viên đi làm việc trên tàu biển nước ngoài là những thuyén viên thuộc quốc gia mà họ dang là công dân, đã, đang và sẽ làm việc trên tàu biển thuộc sở hữu của chủ tau nước ngoài, được hưởng lương, thưởng cùng các loại phụ cấp khác từ chủ tàu nước ngoài hay người đại diện hợp pháp của họ”.
Qua phân tích về khái niệm thuyền viên đi làm việc trên tàu biển nước ngoài, căn cứ vào khoản 1 điều 3 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoai theo hợp đồng, tác giả đưa định nghĩa về hoạt động đưa thuyền viên đi làm việc trên tàu biển nước ngoài như sau: “Thực hiện các hoạt động dịch vụ đưa thuyén viên mang quốc tịch Việt Nam di làm việc trực tiếp trên các con tàu biển thuộc sở hữu, quản lý của chủ tàu nước ngoài, được hưởng lương, thưởng cùng các loại phụ cấp khác từ chủ tàu nước ngoài hay người đại diện hợp pháp của họ”. Đặc điểm hoạt động đưa thuyén viên đi làm việc trên tàu biển nước ngoài Dựa trên cơ sở khái niệm về thuyền viên đi làm việc trên tàu biển nước ngoai chúng ta có thé xác định được đặc điểm của hoạt động này như sau: Hoạt động đưa thuyền viên đi làm việc trên tàu biển nước ngoai là loại hình lao động đặc thù điển hình được cả thế giới công nhận. Tổ chức lao động quốc tế, ngay từ khi mới thành lập đã xác định rỡ rằng, thuyền viên là một loại lao động đặc biệt và cần phải có quy định quốc tế nhằm bảo vệ, động viên phát triển. Chính vì thế mà ngay từ năm 1920 “Công ước về tudi lao động trên biển tối thiểu (No.7)” và “Công ước cung ứng thuyền viên (No.9)” đã được sớm thông qua và đã góp phan không nhỏ vào việc định hướng lập pháp đối với các quốc gia thành viên về các vấn dé liên quan tới thuyền viên.
Cho tới nay riêng tổ chức ILO đã thông qua ít nhất là 33 Công ước quốc tế liên quan tới thuyền viên. MLC 2006 là Công ước mới nhất mang tính đột phá cao. Hiện có rất nhiều quốc gia đã thông qua và đăng ký phê chuẩn. Từ ngày 20 thang 8 năm 2013, Công ước MLC chính thức có hiệu lực áp dụng đối với Việt Nam.
Hoạt động đưa thuyền viên đi làm việc trên tàu biển nước ngoài cần tuyển 14 dụng những thuyền viên có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao theo tiêu chuẩn quốc tế. Đề hoàn thành tốt nhiệm vụ của minh, thuyền viên di làm việc ở nước ngoai trên tàu biển cần phải có kiến thức tổng hợp về nhiều lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ. Mỗi một con tàu hiện nay với rất nhiều chi tiết, hệ thống hiện đại, vì vậy để làm chủ nó thuyền viên phải là người có tri thức nhất định trên nhiều phương diện. Ngày nay hoạt động đưa thuyền viên đi làm việc trên tàu biển nước ngoài không những phải đáp ứng các quy định của tô chức Hang hải quốc tế IMO; các luật, Bộ luật không những của quốc tế mà của cả những quốc gia ven biển, các quy định của chủ tàu.
mà còn phải đảm bảo an toàn trong quá trình vận hành, khai thác tàu. Chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ cũng như các quy định về tiêu chuẩn thực hiện công việc, kỹ năng yêu cầu đối với từng vị trí của thuyền viên trên tàu rất cụ thê, rõ ràng.