Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các nghiên cứu trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX nửa đầu XX Nghiên cứu về thương mại, thương cảng ở Việt Nam được bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, khi có sự hiện diện của các nhà khoa học người Pháp. Năm 1896, dựa trên các bản đồ, sơ đồ cổ, Dumoutier đã hoàn thành công trình Étude sur un Portulan annamite du XV siècle (Nghiên cứu về một tấm bản đồ cổ An Nam thế kỷ XV). Đây được xem là công trình đầu tiên đề cập tới hệ thống cảng biển Việt Nam thế kỷ XV, trong đó có các cảng ở Bắc Trung Bộ.
Những bản đồ địa hình và chỉ dẫn của tác giả giúp người đọc xác định, hình dung được vị trí của các cửa sông, cảng biển thế kỷ XV. Lịch sử ngoại thương Việt Nam cũng được người Pháp chú ý, trước hết là việc công bố nguồn tư liệu quý chứa đựng nội dung về ngoại thương Việt Nam với những tập du ký nổi tiếng của A. Tavernier, Richard, Bissachère. Nhưng có ý nghĩa quan trọng hơn, người Pháp còn cho ra đời nhiều công trình có giá trị về lịch sử ngoại thương Việt Nam, trong đó có thể kể đến một số tác phẩm nổi bật như: Les Marchands Européen en Cochinchine et au Tonkin 1660-1775 (Những thương nhân châu Âu ở Đàng Trong và Đàng Ngoài giai đoạn 1660-1775) của Ch.Maybon, xuất bản năm 1916; Le vieux Faifo (Phố cổ Hội An) của A.
Sallet, đăng trên Bulletin des Amis du Vieux Huế (Tạp chí Những người bạn cố đô Huế), số 4-1919. Maybon hoàn thành công trình Histoire moderne du pays d'Annam (Lịch sử cận đại nước An Nam). Một phần của công trình này được tác giả Nguyễn Thừa Hỷ dịch ra tiếng Việt với tựa đề Những người châu Âu ở nước An Nam. Có thể nói, chương sách Những người 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com châu Âu ở nước An Nam đã khái quát, tổng lược sự xuất hiện và hoạt động của các giáo sĩ, thương nhân phương Tây ở Đàng Ngoài và Đàng Trong thế kỷ XVII, XVIII.
Viết về Bắc Trung Bộ có công trình Le Thanh Hoa (Tỉnh Thanh Hóa) của Charles Robequain, xuất bản lần đầu bằng tiếng Pháp năm 1929 và công trình Le Vieux An - Tĩnh (An - Tĩnh cổ lục) của Hippolite Le Breton, xuất bản lần đầu năm 1936. Cuốn sách Tỉnh Thanh Hóa của Charles Robequain giới thiệu khái quát vị trí địa lý, địa hình, khí hậu, các nhóm tộc người, tổ chức xã hội, kinh tế, đời sống, dân cư và các luồng di dân, ngành nghề… trên các miền của tỉnh Thanh Hóa. Tác phẩm An - Tĩnh cổ lục của Hippolite Le Breton là một chuyên khảo lịch sử viết về vùng đất, di tích và danh thắng trên địa bàn tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh ngày nay. Hai tác phẩm này là những công trình quan trọng, thuộc thể loại sách địa chí lịch sử, có đề cập đến những làng chài tiêu biểu ở Thanh Hóa và hoạt động kinh tế ở một số cửa sông cảng biển Bắc Trung Bộ nhưng chưa nhìn nhận hoạt động thương mại của các thương cảng như một đối tượng nghiên cứu độc lập.
Năm 1933, nhà nghiên cứu người Pháp J.Peyssonnaux công bố bài viết “Les miroirs de bronze” (Những cái gương đồng), đăng trên Bulletin des Amis du Vieux Huế. Bài viết đề cập đến quan hệ thương mại giữa Nhật Bản với vùng Bắc Trung Bộ, khẳng định Vinh (Nghệ An) là một trong hai địa điểm (cùng với Hội An) có thuyền buôn của người Nhật đến buôn bán. Bên cạnh những công trình mang tính chất tổng hợp, đa ngành, liên ngành còn có những nghiên cứu chuyên ngành khác đề cập đến các thương cảng Bắc Trung Bộ. Vào những năm 1930, một số nhà khảo cổ phương Tây, tiêu biểu là O.Jansé (người Thụy Điển) tiến hành khai quật khảo cổ học ở Lạch Trường.
Đáng chú ý là, cuộc khai quật phát hiện pho tượng người đội đèn trong một ngôi mộ Hán. Tuy nhiên, đây là di chỉ khảo cổ học thuộc nền 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn hóa Đông Sơn, có ý nghĩa chứng minh mối quan hệ thương mại của Lạch Trường thời cổ đại là chủ yếu. Đầu thế kỷ XX, bên cạnh người Pháp còn có một số nhà nghiên cứu người Việt quan tâm tới mối quan hệ thương mại, bang giao của Đại Việt với bên ngoài. Trong bài viết tiêu đề “Cổ đại Nam Nhật giao thông khảo” (Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản thời cổ) đăng trên Tạp chí Hán văn tháng 12-1921 và tháng 2-1922, tác giả Lê Dư lần lượt giới thiệu 35 bức thư trao đổi giữa chúa Trịnh, chúa Nguyễn với Mạc phủ Tokugawa.
Có thể nói, Lê Dư là người Việt Nam đầu tiên nghiên cứu quan hệ bang giao giữa Việt Nam và Nhật Bản, đồng thời cũng là người đầu tiên giới thiệu tập thư từ trao đổi giữa hai nước trong Ngoại phiên thông thư. Ngoài Lê Dư, tác giả Đào Duy Anh, một nhà sử học lớn thuộc thế hệ đầu tiên của nền sử học Việt Nam hiện đại hoàn thành công trình Việt Nam văn hóa sử cương, xuất bản lần đầu năm 1938. Trong phần “Công nghệ”, “Thương mại” của tác phẩm có đề cập đến quan hệ mậu dịch giữa Việt Nam với các quốc gia bên ngoài. Khi cuộc Chiến tranh Thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối và Việt Nam giành được độc lập dân tộc (1945), giới học thuật quốc tế và trong nước lúc bấy giờ chủ yếu chú ý tới các vấn đề chính trị, thời sự, các nghiên cứu về thương mại không được quan tâm, nên thời điểm này được xem là mốc thời gian kết thúc giai đoạn nghiên cứu thứ nhất.
Như vậy, nghiên cứu về thương mại, thương cảng giai đoạn cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX đạt được những thành quả nhất định, phương pháp nghiên cứu khảo cổ học được áp dụng. Tuy chưa có nghiên cứu nào đề cập tới mối quan hệ thương mại của các thương cảng tiểu vùng Bắc Trung Bộ như một đối tượng nghiên cứu độc lập, nhưng kết quả nghiên cứu đó đã phác thảo một số nét về ngoại thương của vùng đất Bắc Trung Bộ trong lịch sử. 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Những nghiên cứu trong giai đoạn từ nửa sau thế kỷ XX đến nay * Những nghiên cứu có tính tổng quát về thương mại Biển Đông Nghiên cứu về thương mại khu vực Biển Đông có mối quan hệ với quá trình quốc tế hóa về mặt kinh tế.
Năm 1959, tác phẩm The Nanhai trade: the early history of Chinese trade in the South China sea (Thương mại Nam hải: Lịch sử thương mại của người Hoa thời kỳ sớm ở biển Nam Trung Hoa) của Wang Gungwu được xuất bản [237; tr. Công trình viết về bối cảnh lịch sử, nội dung và diễn trình mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc với Đông Nam Á trong khoảng 11 thế kỷ (từ thời Hán, thế kỷ II trước công nguyên đến trước khi nhà Tống thành lập năm 960). Mặc dù không đề cập tới hoạt động giao thương thế kỷ XI - XIX, nhưng tác phẩm chỉ ra mối quan hệ thương mại giữa Trung Quốc với các nước Đông Nam Á qua con đường ven biển và ngoài khơi. Có thể nói, Wang Gungwu (người Úc, gốc Hoa) là người tiên phong nghiên cứu thương mại, lĩnh vực thu hút sự quan tâm của nhiều nhà sử học sau này.
Cùng thời điểm năm 1959, tác giả Paul Whealey (người Mỹ) hoàn thành công trình: Geographical Notes on Some Commodities Involved in Sung maritime trade (Những ghi chú địa lý về hàng hóa liên quan đến hải thương thời Tống [237; tr. Dựa trên nguồn sử liệu phong phú (Lĩnh ngoại đại đáp của Chu Khứ Phi, Quế hải ngô hành chí của Phạm Thành Đạt, Chư phiên chí của Triệu Nhữ Quát.), qua các tên gọi địa danh và các thông tin về khoảng cách, tác giả chỉ ra mối quan hệ thương mại của nhà Tống Trung Quốc với nhiều quốc gia Đông Nam Á, hay xa hơn là những quốc gia ở khu vực Tây Nam Á. Cùng với đó, tác giả viết về hàng trăm loại thương phẩm trao đổi giữa Trung Quốc và Đông Nam Á thời Tống thế kỷ X - XIII. Viết về thương mại cũng như ảnh hưởng của thương mại đối với sự phát triển của Đông Nam Á (khu vực Biển Đông) không thể không nhắc tới 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác giả Kenneth R Hall (người Mỹ) với tác phẩm Maritime Trade and State Development in Early Southeast Asia (Hải thương và phát triển nhà nước ở Đông Nam Á thời kỳ sớm) xuất bản năm 1985 và công trình A history of Early Southeast Asia: Maritime Trade and Societal Development, 100-1500 (Lịch sử Đông Nam Á thời kỳ sớm: Hải thương và phát triển xã hội, 100- 1500), xuất bản năm 2010.
Đây là một công trình quan trọng tái hiện hoạt động hải thương ở châu Á, đặc biệt là ở Đông Nam Á từ đầu công nguyên đến hết thế kỷ XV; công trình có đề cập tới tình hình thương mại ở nhiều quốc gia cụ thể như Đại Việt, Champa, Srivijaya v. Nghiên cứu về thương mại khu vực Biển Đông còn có nhiều công trình khác, tiêu biểu là tác phẩm Southeast Asia in age of commerce 1450-1680 (Đông Nam Á trong kỷ nguyên thương mại 1450-1680) của Anthony Reid, gồm 2 tập: tập 1 có tiêu đề The Lands below the winds (Vùng đất dưới gió), xuất bản năm 1998; tập 2 tiêu đề Expansion and Crisis (Mở rộng và khủng hoảng), xuất bản năm 1993. Hai tập của tác phẩm đã khái quát những điều kiện tự nhiên, điều kiện thương mại, dựng lại bức tranh hoạt động thương mại ở Đông Nam Á từ năm 1450 đến năm 1680 và gọi đó là Kỷ nguyên thương mại (the age of commerce). Khái niệm này sau đó được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng, mang ý nghĩa chỉ thời kỳ hoàng kim của nền thương mại châu Á.
Năm 2009, tác giả Geoff Wade (một nhà sử học người Mỹ) có quan niệm mở rộng thời gian về kỷ nguyên thương mại ở Đông Nam Á qua bài viết “An early age of commerce in Southeast Asia, 900-1300” (Kỷ nguyên thương mại sơ kỳ ở Đông Nam Á 900-1300). Công trình của Geoff Wade nhấn mạnh đến các nhân tố ngoại sinh, đặc biệt chính sách khuyến thương của nhà Tống (Trung Quốc), ảnh hưởng của thương nhân Hồi giáo, thương nhân gốc Tamil (vùng Đông Nam Ấn Độ) đến thương mại Đông Nam Á; đồng thời chỉ ra những chuyển biến chính của thương mại Đông Nam Á với các biểu hiện như 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sự dịch chuyển của các trung tâm hành chính về phía biển, sự phát triển của các cảng thị. Từ đó, tác giả nhìn nhận giai đoạn 900-1300 là Kỷ nguyên thương mại sơ kỳ (the early age of commerce), hay giai đoạn sơ kỳ của kỷ nguyên thương mại Đông Nam Á.