Khóa luận tốt nghiệp ngành kinh tế đối ngoại thực trạng hoạt động xuất khẩu tại công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm việt nam chi nhánh thành phố hồ chí minh

Khóa luận phân tích thực trạng hoạt động xuất khẩu tại công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam chi nhánh TP.HCM trong ngành kinh tế đối ngoại.

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2016

90
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu

1.2. Vai trò của hoạt động xuất khẩu

1.3. Các hình thức xuất khẩu

1.4. Quá trình tổ chức hoạt động xuất khẩu hàng hóa

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu

1.5.1. Các yếu tố kinh tế

1.5.2. Các yếu tố xã hội

1.5.3. Các yếu tố chính trị pháp luật

1.5.4. Các yếu tố tự nhiên và công nghệ

1.5.5. Các yếu tố hạ tầng phục vụ cho việc xuất khẩu

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN KỸ NGHỆ THỰC PHẨM VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. Giới thiệu Công ty Cổ phần Kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam

2.1.1. Giới thiệu chung

2.1.2. Lịch sử hình thành và phát triển

2.1.3. Chức năng và nhiệm vụ, tôn chỉ hoạt động của công ty

2.1.3.1. Nhiệm vụ và tôn chỉ hoạt động

2.1.4. Mô hình tổ chức sản xuất và tổ chức bộ máy quản trị

2.1.4.1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý
2.1.4.2. Chức năng, nhiệm vụ của các phòng ban

2.1.5. Đặc điểm về lao động

2.1.6. Công nghệ dây chuyền sản xuất và sản phẩm của công ty

2.1.6.1. Đặc điểm về công nghệ dây chuyền sản xuất và thiết bị
2.1.6.2. Các sản phẩm thiết yếu của công ty

2.1.7. Tình hình sản xuất kinh doanh của công ty trong những năm gần đây

2.1.7.1. Kim ngạch xuất khẩu của công ty qua các năm

2.1.8. Sơ lược về sản phẩm và thị trường của công ty

2.1.8.1. Cơ cấu thị trường xuất khẩu qua từng năm
2.1.8.2. Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu

2.2. Quy trình xuất khẩu hàng hóa của Công ty cổ phần Kỹ nghệ thực phẩm Việt Nam

2.2.1. Lập kế hoạch xuất hàng

2.2.2. Xác nhận booking với các hãng tàu, máy bay, xe

2.2.3. Làm lệnh xuất hàng

2.2.4. Đóng hàng thực tế và phát hành chi tiết đóng thùng

2.2.5. Phát hành Invocie, Packing list

2.2.6. Khai báo Hải quan và làm thủ tục Hải quan tại cảng

2.2.7. Gửi chi tiết lô hàng cho các đại lý hãng tàu, máy bay, xe để làm Bill

2.2.8. Gửi bộ chứng từ đầy đủ đến khách hàng

2.3. Những nhân tố tác động lên hoạt động xuất khẩu của Công ty Cổ phần Kỹ nghệ Thực phẩm Việt Nam

2.3.1. Những nhân tố bên trong công ty

2.3.2. Những nhân tố bên ngoài công ty

2.4. Đánh giá về hoạt động xuất khẩu của Công ty Cổ phần Kỹ nghệ Thực phẩm Việt Nam

2.4.1. Điểm yếu và điểm mạnh

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN KỸ NGHỆ THỰC PHẨM VIỆT NAM

3.1. Phương hướng chung về mở rộng thị trường xuất khẩu

3.2. Mục tiêu cơ bản

3.3. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu

3.3.1. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và mở rộng thị trường xuất khẩu

3.3.2. Nâng cao trình độ cán bộ trong hoạt động xuất nhập khẩu

3.3.3. Đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ xúc tiến thương mại

3.3.4. Tổ chức tốt mạng lưới thu mua, tạo nguồn cho xuất khẩu

3.3.5. Đa dạng hóa các loại sản phẩm xuất khẩu

3.4. Kiến nghị đối với nhà nước và hải quan

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng xuất khẩu tại VIFON TP

Công ty Cổ phần Kỹ Nghệ Thực Phẩm Việt Nam (VIFON) là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành thực phẩm tại TP.HCM. Hoạt động xuất khẩu của VIFON không chỉ đóng góp vào doanh thu của công ty mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế của thành phố. Trong những năm qua, VIFON đã không ngừng mở rộng thị trường xuất khẩu, đặc biệt là các sản phẩm thực phẩm chế biến sẵn. Tuy nhiên, thực trạng xuất khẩu của công ty cũng gặp phải nhiều thách thức từ thị trường quốc tế.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của VIFON

VIFON được thành lập từ năm 1963, với mục tiêu cung cấp các sản phẩm thực phẩm chất lượng cao cho người tiêu dùng. Qua nhiều năm phát triển, VIFON đã mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó gia tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu.

1.2. Các sản phẩm chủ lực xuất khẩu của VIFON

Các sản phẩm chủ lực của VIFON bao gồm mì ăn liền, gia vị và các sản phẩm chế biến từ gạo. Những sản phẩm này không chỉ được ưa chuộng trong nước mà còn được xuất khẩu sang nhiều thị trường quốc tế, góp phần nâng cao giá trị thương hiệu VIFON.

II. Thách thức trong hoạt động xuất khẩu của VIFON TP

Mặc dù có nhiều thành công, nhưng VIFON cũng đối mặt với nhiều thách thức trong hoạt động xuất khẩu. Cạnh tranh gay gắt từ các đối thủ trong và ngoài nước, cũng như sự thay đổi trong nhu cầu của thị trường quốc tế là những yếu tố cần được xem xét. Ngoài ra, việc tuân thủ các quy định về chất lượng và an toàn thực phẩm cũng là một thách thức lớn.

2.1. Cạnh tranh trong ngành xuất khẩu thực phẩm

Ngành xuất khẩu thực phẩm đang ngày càng trở nên cạnh tranh hơn với sự gia nhập của nhiều doanh nghiệp mới. VIFON cần phải cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ để giữ vững thị phần.

2.2. Quy định và tiêu chuẩn chất lượng quốc tế

Để xuất khẩu thành công, VIFON phải tuân thủ các tiêu chuẩn chất lượng quốc tế. Điều này đòi hỏi công ty phải đầu tư vào công nghệ và quy trình sản xuất hiện đại.

III. Phương pháp nâng cao hiệu quả xuất khẩu tại VIFON

Để nâng cao hiệu quả xuất khẩu, VIFON cần áp dụng một số phương pháp chiến lược. Việc nghiên cứu thị trường và phát triển sản phẩm mới là rất quan trọng. Đồng thời, công ty cũng cần tăng cường hoạt động marketing và xây dựng thương hiệu mạnh mẽ hơn.

3.1. Nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới

VIFON cần đầu tư vào nghiên cứu và phát triển để tạo ra các sản phẩm mới phù hợp với nhu cầu của thị trường quốc tế. Điều này sẽ giúp công ty mở rộng danh mục sản phẩm và thu hút thêm khách hàng.

3.2. Tăng cường hoạt động marketing quốc tế

Việc xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm ra thị trường quốc tế là rất cần thiết. VIFON cần sử dụng các kênh truyền thông hiện đại để tiếp cận khách hàng tiềm năng.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại VIFON

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng VIFON đã đạt được nhiều thành tựu trong hoạt động xuất khẩu. Doanh thu từ xuất khẩu đã tăng trưởng ổn định trong những năm qua, cho thấy sự phát triển bền vững của công ty. Tuy nhiên, cần có những biện pháp cụ thể để duy trì và phát triển hơn nữa.

4.1. Doanh thu xuất khẩu qua các năm

Theo số liệu thống kê, doanh thu xuất khẩu của VIFON đã tăng trưởng từ 2013 đến 2015, cho thấy sự phát triển tích cực trong hoạt động xuất khẩu của công ty.

4.2. Phân tích thị trường xuất khẩu

VIFON đã mở rộng thị trường xuất khẩu sang nhiều quốc gia, từ đó gia tăng khả năng cạnh tranh và tạo ra nguồn thu ổn định cho công ty.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của VIFON

Với những thành tựu đã đạt được, VIFON có triển vọng phát triển mạnh mẽ trong tương lai. Công ty cần tiếp tục cải tiến quy trình sản xuất và mở rộng thị trường xuất khẩu để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Việc xây dựng chiến lược xuất khẩu bền vững sẽ là chìa khóa cho sự thành công lâu dài của VIFON.

5.1. Chiến lược phát triển bền vững

VIFON cần xây dựng chiến lược phát triển bền vững, tập trung vào việc cải thiện chất lượng sản phẩm và dịch vụ khách hàng.

5.2. Tăng cường hợp tác quốc tế

Việc thiết lập các mối quan hệ đối tác chiến lược với các doanh nghiệp quốc tế sẽ giúp VIFON mở rộng thị trường và nâng cao khả năng cạnh tranh.

19/08/2025
Khóa luận tốt nghiệp ngành kinh tế đối ngoại thực trạng hoạt động xuất khẩu tại công ty cổ phần kỹ nghệ thực phẩm việt nam chi nhánh thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm và vai trò của hoạt động xuất khẩu: 1. Khái niệm: Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là việc bán hàng hóa và dịch vụ cho một quốc gia khác trên cùng cơ sở dùng tiền tệ làm phương tiện thanh toán, với mục tiêu lợi nhuận. Tiền tệ ở đây có thể là ngoại tệ đối với một quốc gia hoặc với cả hai quốc gia.

Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản của hoạt động ngoại thương. Nó đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử phát triển của xã hội và ngày càng phát triển mạnh mẽ cả về chiều rộng và chiều sâu. Hình thức sơ khai của chúng chỉ là hoạt động trao đổi hàng hóa nhưng cho đến nay nó đã phát triển rất mạnh và được biểu hiện dưới nhiều hình thức.

Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến từ liệu sản xuất, máy móc hàng hóa thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp nói riêng. Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian. Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể được diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.

Vai trò của hoạt động xuất khẩu: 1. Đối với nền kinh tế thế giới: Xuất khẩu có một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế của từng quốc gia cũng như của toàn thế giới. Do những điều kiện khác nhau nên một quốc gia có thể mạnh về lĩnh vực này lại yếu về lĩnh vực khác, vì vậy để có thể khai thác được lợi thế, tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricacdo, ông nói rằng: “ Nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì thể khai thác được lợi thế, tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng các quốc gia phải tiến hành trao đổi với nhau dựa trên lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricacdo, ông nói rằng: “Nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. Nguyễn Mỹ Chương trong sản xuất hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích của chính mình”, và khi tham gia vào thương mại quốc tế thì “quốc gia có hiệu quả thấp trong sản xuất các loại hàng hoá sẽ tiến hành chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu những loại mặt hàng mà việc sản xuất ra chúng là ít bất lợi nhất và nhập khẩu những loại mặt hàng mà việc sản xuất ra chúng có bất lợi lớn hơn”.

Nói cách khác, một quốc gia trong tình huống bất lợi vẫn có thể tìm ra điểm có lợi để khai thác. Bằng việc khai thác các lợi thế này, các quốc gia tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế tương đối. Sự chuyên môn hoá đó làm cho mỗi quốc gia khai thác được lợi thế của mình một cách tốt nhất giúp tiết kiệm được nguồn nhân lực như vốn, kỹ thuật, nhân lực trong quá trình sản xuất hàng hoá. Do đó, tổng sản phẩm trên quy mô toàn thế giới cũng sẽ được gia tăng.

Đối với nền kinh tế của quốc gia: Đối với nền kinh tế mỗi quốc gia, xuất khẩu tạo nguồn vốn chính cho nhập khẩu, phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia đòi hỏi phải có 4 điều kiện: nhân lực, tài nguyên, vốn và kỹ thuật. Song không phải mỗi quốc gia nào cũng có đủ 4 điều kiện đó và để giải quyết tình trạng này buộc họ phải nhập từ bên ngoài những yếu tố mà trong nước chưa có đủ khả năng đáp ứng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để có đủ ngoại tệ cho việc nhập khẩu này.

Thực tiễn cho thấy, để có đủ nguồn vốn nhập khẩu, một nước và đặc biệt là các nước đang phát triển có thể sử dụng các nguồn vốn chính như: đầu tư nước ngoài, vay nợ, viện trợ và thu từ hoạt động xuất khẩu. Tầm quan trọng của nguồn vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ và viện trợ thì không ai có thể phủ nhận được. Nhưng khi sử dụng ngồn vốn này thì những nước đi vay phải chấp nhận những thiệt thòi nhất định và dù bằng cách này hay cách khác cũng phải hoàn lại vốn cho nước ngoài. Bởi vậy nguồn vốn quan trọng nhất mà mỗi quốc gia có thể trông chờ là vốn thu được từ hoạt động xuất khẩu.

Vì vậy, xuất khẩu là hoạt động chính tạo tiền đề cho nhập khẩu, quyết định đến quy mô và tăng trưởng của nhập khẩu. Ở các nước kém phát triển, vật cản trở sự tăng trưởng kinh tế là thiếu tiềm lực và vốn. Ngoài vốn huy động từ nước ngoài được coi là cơ sở chính nhưng mọi cơ hội đầu tư hoặc vay nợ từ nước ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ tăng lên khi chủ đầu tư và người cho vay 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. Nguyễn Mỹ Chương thấy khả năng xuất khẩu của các nước đó, vì đây là nguồn chính đảm bảo nước đó có thể trả nợ được.

Xuất khẩu góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu sẽ giúp các nước kém phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, phù hợp với xu thế phát triển của nền kinh tế thế giới. Đối với một doanh nghiệp: Thông qua xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước có cơ hội tham gia vào cuộc cạnh tranh trên thị trường thế giới về giá cả, chất lượng sản phẩm – những yếu tố đòi hỏi doanh nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trường. Xuất khẩu buộc các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công tác quản trị kinh doanh, đồng thời có ngoại tệ để đầu tư lại quá trình sản xuất không những về chiều rộng mà cả về chiều sâu.

Ngoài ra, sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút được nhiều lao động, tạo thu nhập ổn định cho người lao động tạo ra ngoại tệ để chấp nhận máy móc thiết bị hiện đại phục vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và đem lại lợi nhuận cao. Các hình thức xuất khẩu: 1. Xuất khẩu trực tiếp: Khái niệm trực tiếp là việc xuất khẩu các loại hàng hóa dịch vụ do chính doanh nghiệp sản xuất ra hoặc thu mua từ các đơn vị sản xuất trong nước tới khách hàng nước ngoài thông qua các tổ chức của mình. Trong trường hợp doanh nghiệp tham gia xuất khẩu là doanh nghiệp thương mại không tự sản xuất ra sản phẩm thì việc xuất khẩu bao gồm hai công đoạn: - Thu mua tạo nguồn hàng xuất khẩu với các đơn vị, địa phương trong nước.

- Đàm phán ký kết với doanh nghiệp nước ngoài, giao hàng và thanh toán tiền hàng với đơn vị bạn. Phương thức này có một số ưu điểm là: thông qua đàm phán thảo luận trực tiếp dễ dàng đi đến thống nhất và ít xảy ra những hiểu lầm đáng tiếc do đó: - Giảm được chi phí trung gian do đó làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. - Có nhiều điều kiện phát huy tính độc lập của doanh nghiệp. - Chủ động trong việc tiêu thụ hàng hóa sản phẩm của mình.

6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. Nguyễn Mỹ Chương - Tuy nhiên bên cạnh mặt tích cực thì phương thức này còn bộc lộ một số những nhược điểm như:  Dễ xảy ra rủi ro.  Nếu như không có cán bộ XNK có đủ trình độ và kinh nghiệm tham gia ký kết hợp đồng ở một thị trường mới hay mắc phải sai lầm gây bất lợi cho mình.  Khối lượng hàng hóa khi tham gia giao dịch thường phải lớn thì mới có thể bù đắp được chi phí trong việc giao dịch.

 Như khi tham gia xuất khẩu trực tiếp phải chuẩn bị tốt một số công việc. Nghiên cứu hiểu kỹ về bạn hàng, loại hàng hóa định mua bán, các điều kiện giao dịch đưa ra trao đổi, cần phải xác định rõ mục tiêu và yêu cầu của công việc. Lựa chọn người có đủ năng lực tham gia giao dịch, cân nhắc khối lượng hàng hóa, dịch vụ cần thiết để công việc giao dịch có hiệu quả. Gia công quốc tế: Đây là một phương thức kinh doanh trong đó một bên gọi là bên nhận gia công nguyên vật liệu hoặc bán thành phần của một bên khác (gọi là bên đặt gia công ) để chế biến ra thành phẩm giao cho bên đặt gia công và nhận thù lao (gọi là chi phí gia công ).

Đây là một trong những hình thức xuất khẩu đang có bước phát triển mạnh mẽ và được nhiều quốc gia chú trọng. Bởi những lợi ích của nó. Đối với bên đặt gia công: Phương thức này giúp họ lợi dụng về giá rẻ, nguyên phụ liệu và nhân công của nước nhận gia công. Đối với bên nhận gia công: Phương thức này giúp họ giải quyết công ăn việc làm cho nhân công lao động trong nước hoặc nhập được thiết bị hay công nghệ mới về nước mình, nhằm xây dựng một nền công nghiệp dân tộc như Nam Triều Tiên, Thái Lan, Singapore…  Các hình thức gia công quốc tế: Xét về quyền sở hữu nguyên liệu, gia công quốc tế có thể tiến hành dưới hình thức sau đây: - Bên đặt gia công giao nguyên liệu hoặc bán thành phẩm cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo, sẽ thu hồi sản phẩm và trả phí gia công.

7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th. Nguyễn Mỹ Chương - Bên đặt gia công bán đứt nguyên liệu cho bên nhận gia công và sau thời gian sản xuất, chế tạo sẽ mua thành phẩm. Trong trường hợp này quyền sở hữu nguyên liệu chuyển từ bên đặt gia công sang bên nhận gia công. - Ngoài ra người ta còn có thể áp dụng hình thức kết hợp trong đó bên đặt gia công chỉ giao những nguyên vật liệu chính còn bên nhận gia công cung cấp những nguyên vật liệu phụ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ