Nghiên cứu thực trạng viêm âm đạo ở phụ nữ tại Thoại Sơn - BS. Nguyễn Thị Sương

Nghiên cứu thực trạng viêm âm đạo ở phụ nữ 18-49 tuổi. Báo cáo phân tích chi tiết nguyên nhân, yếu tố liên quan và tỷ lệ mắc bệnh thực tế năm 2023.

Chuyên ngành

Sản phụ khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo đề tài nghiên cứu

2023

69
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về viêm âm đạo ở phụ nữ Việt Nam

Viêm âm đạo là một trong những bệnh phụ khoa phổ biến nhất ở phụ nữ tuổi sinh đẻ. Nghiên cứu thực trạng viêm âm đạo năm 2023 được thực hiện tại Trung tâm Y tế huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, đã cung cấp những dữ liệu quý báu về tình hình nhiễm trùng đường sinh dục ở phụ nữ từ 18 đến 49 tuổi. Dữ liệu cho thấy tỷ lệ phụ nữ mắc viêm nhiễm âm đạo còn khá cao, ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống và sức khỏe sinh sản của họ. Nghiên cứu này giúp cải thiện hiểu biết về thực trạng, các yếu tố nguy cơ, và từ đó đưa ra các biện pháp phòng ngừa và điều trị hiệu quả hơn.

1.1. Định nghĩa và nguyên nhân viêm âm đạo

Viêm âm đạo xảy ra khi có sự mất cân bằng trong hệ vi sinh vật bình thường của âm đạo. Các nguyên nhân chính bao gồm: nhiễm trùng do vi khuẩn, nấm, ký sinh trùng, thay đổi độ pH âm đạo, sử dụng kháng sinh không hợp lý, vệ sinh cá nhân không đúng cách, và các yếu tố miễn dịch. Nghiên cứu năm 2023 chỉ ra rằng viêm âm đạo do vi khuẩn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng số ca bệnh.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu thực trạng năm 2023

Nghiên cứu thực trạng viêm âm đạo năm 2023 tại huyện Thoại Sơn là bước tiến quan trọng trong công tác phòng chống bệnh phụ khoa. Dữ liệu từ 300 phụ nữ được khám phụ khoa cung cấp cơ sở khoa học để xây dựng chiến lược sàng lọc, chẩn đoán sớm và điều trị bệnh. Kết quả giúp nhân viên y tế tăng cường tư vấn về vệ sinh sinh sản và phòng ngừa bệnh.

II. Đặc điểm lâm sàng và yếu tố nguy cơ

Nghiên cứu năm 2023 đã phân tích chi tiết đặc điểm lâm sàng của viêm âm đạo và các yếu tố liên quan. Phụ nữ mắc viêm âm đạo thường gặp các triệu chứng như khí hư bất thường, ngứa, rát, tiểu buốt. Kết quả soi tươi và nhuộm Gram là những phương pháp chẩn đoán chính xác để xác định loại tác nhân gây bệnh. Các yếu tố nguy cơ được xác định bao gồm: tuổi tác, nơi cư trú, trình độ học vấn, tình trạng kinh tế, số lần mang thai, thói quen vệ sinh cá nhân, sử dụng biện pháp tránh thai, và nguồn nước sinh hoạt. Phụ nữ không thường xuyên khám phụ khoa có nguy cơ cao hơn không phát hiện bệnh viêm nhiễm sớm.

2.1. Triệu chứng và biểu hiện lâm sàng

Các triệu chứng phổ biến của viêm âm đạo bao gồm: khí hư bất thường (tăng số lượng, đổi màu, mùi hôi), ngứa âm hộ, rát, tiểu buốt, đau khi giao hợp. Mức độ triệu chứng có thể từ nhẹ đến nặng tùy thuộc vào tác nhân gây bệnh. Nghiên cứu năm 2023 cho thấy nhiều phụ nữ có viêm âm đạo không triệu chứng nhưng được phát hiện khi khám phụ khoa, nhấn mạnh tầm quan trọng của khám sàng lọc định kỳ.

2.2. Các yếu tố nguy cơ chính

Dữ liệu từ nghiên cứu cho thấy phụ nữ 25-35 tuổi có tỷ lệ viêm âm đạo cao hơn. Các yếu tố nguy cơ khác bao gồm: sử dụng dung dịch vệ sinh không phù hợp, nước không sạch, rửa quá sạch, tiền sử nạo hút thai, sử dụng vòng tránh thai, trình độ học vấn thấp, và ít tiếp nhận thông tin về khám phụ khoa định kỳ.

III. Phương pháp chẩn đoán và kỹ thuật xét nghiệm

Nghiên cứu thực trạng viêm âm đạo năm 2023 sử dụng các phương pháp chẩn đoán tiêu chuẩn vàng trong phụ khoa. Soi tươi là kỹ thuật quan sát trực tiếp dịch âm đạo dưới kính hiển vi, giúp phát hiện nấm Candida, ký sinh trùng Trichomonas, và các dấu hiệu của viêm âm đạo do vi khuẩn. Nhuộm Gram cho phép xác định chính xác vi khuẩn gây bệnh, đặc biệt là Lậu cầu khuẩn (Neisseria gonorrhoeae). Các chỉ số như tỷ lệ Lactobacillus, số lượng tế bào bạch cầu, và pH âm đạo được đánh giá. Kỹ thuật nhuộm Gram đánh giá viêm âm đạo do vi khuẩn theo tiêu chuẩn Amsel giúp phân loại mức độ bệnh từ nhẹ đến nặng, hỗ trợ quyết định điều trị chính xác.

3.1. Kỹ thuật soi tươi trong chẩn đoán

Soi tươi là phương pháp quan sát lâm sàng nhanh chóng, chi phí thấp. Nghiên cứu năm 2023 sử dụng soi tươi để phát hiện Trichomonas vaginalis, nấm Candida, và đánh giá độ viêm. Phương pháp này có độ nhạy từ 60-90% tùy theo kinh nghiệm của người thực hiện. Soi tươi cho phép đếm tế bào bạch cầutế bào biểu mô để đánh giá mức độ viêm âm đạo.

3.2. Nhuộm Gram và tiêu chuẩn chẩn đoán

Nhuộm Gram là phương pháp tiêu chuẩn để chẩn đoán viêm âm đạo do vi khuẩn. Tiêu chuẩn Amsel sử dụng nhuộm Gram để phân loại: độ I (bình thường), độ II (thay đổi), độ III (viêm do vi khuẩn), độ IV (viêm nặng). Phát hiện Lậu cầu khuẩn dương tính cần báo cáo ngay và điều trị đặc hiệu. Nghiên cứu năm 2023 ghi nhận tỷ lệ viêm âm đạo do vi khuẩn dương tính qua nhuộm Gram.

IV. Hàm ý thực tiễn và khuyến nghị phòng chống

Kết quả nghiên cứu thực trạng viêm âm đạo năm 2023 cung cấp nhiều hàm ý thực tiễn quan trọng cho công tác phòng chống bệnh. Tỷ lệ cao viêm âm đạo cho thấy cần tăng cường công tác giáo dục sức khỏe về vệ sinh sinh sản, khuyến khích phụ nữ khám phụ khoa định kỳ hàng năm. Cần cải thiện chất lượng nước sinh hoạt, hướng dẫn vệ sinh cá nhân đúng cách, tránh lạm dụng dung dịch vệ sinh thương mại. Nhân viên y tế cần được đào tạo về chẩn đoán sớmđiều trị đúng tác nhân gây bệnh. Xây dựng chương trình sàng lọc bệnh phụ khoa ở cộng đồng, đặc biệt ở vùng nông thôn. Phối hợp giữa các cơ sở y tế trong phòng chống viêm nhiễm và nâng cao năng lực chẩn đoán.

4.1. Khuyến nghị về phòng ngừa viêm âm đạo

Để phòng ngừa viêm âm đạo, phụ nữ cần thực hiện: rửa âm hộ bằng nước sạch 1-2 lần/ngày, tránh sử dụng dung dịch vệ sinh quá thường xuyên, thay quần lót sạch hàng ngày, sử dụng biện pháp tránh thai an toàn, thực hiện khám phụ khoa 6-12 tháng/lần. Cần tăng cường tuyên truyền về vệ sinh sinh sản trong cộng đồng, trường học, và các cơ sở y tế.

4.2. Chiến lược can thiệp toàn bộ

Cần xây dựng chương trình can thiệp toàn bộ để giảm tỷ lệ viêm âm đạo. Bao gồm: nâng cao chất lượng nước sạch ở vùng nông thôn, giáo dục sức khỏe sinh sản cho phụ nữ, đào tạo nhân viên y tế về chẩn đoán và điều trị chính xác, xây dựng quy trình sàng lọc tại các trạm y tế, và phối hợp liên ngành trong công tác phòng chống bệnh phụ khoa.

18/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Thông tin chung: Viêm nhiễm đường sinh dục (VNĐSD) là các viêm nhiễm tại cơ quan sinh dục bao gồm cả viêm nhiễm do bệnh lây truyền qua đường tình dục và viêm nhiễm khác không lây qua quan hệ tình dục cả phụ nữ và nam giới đều có thể bị mắc. Viêm nhiễm đường sinh sản có thể do các vi sinh vật bình thưòng hiện hữu trong đường sinh sản gây nên hoặc do các tác nhân bên ngoài hoặc do do quan hệ tình dục hoặc do thủ thuật y tế. Hiện nay, viêm nhiễm đường sinh dục được chia làm 3 loại bệnh: Bệnh lây qua đường tình dục, nhiễm khuẩn nội sinh và nhiễm khuẩn ngoại sinh.

Bệnh lây qua đường tình dục: Khi các sinh vất phát triển và lây qua quan hệ tình dục/ giao hợp như: Chlamydia; Lậu; Trùng roi âm đạo; Giang mai; Hạ cam; Herpes sinh dục; Sùi mào gà sinh dục; HIV; Viêm gan B và C. Nhiễm khuẩn nội sinh: Nhiễm khuẩn nội sinh là do sự phát triển quá mức của các vi sinh vất có sẵn trong đường sinh dục phụ nữ như: Viêm âm đạo vi khuẩn và viêm âm hộ, âm đạo do nấm men. Nhiễm khuẩn ngoại sinh: Khi các vi sinh phát triển và lây do các can thiệp y tế như phá thai, đặt DCTC hay do kiểm soát nhiễm khuẩn kèm… 1. Đặc điểm đường sinh dục dưới: Đường sinh dục dưới bao gồm: âm hộ, âm đạo và phía ngoài cổ tử cung (CTC).

Chúng có liên quan mật thiết với da và hậu môn. Dịch tiết âm đạo chứa 10 8 – 1012con vi trùng gồm Doderlein là chính ngoài ra còn có các cầu trùng và trực trùng khác. Do vi trùng Doderlein tác dụng với glyceren ở lớp biểu mô bề mặt âm đạo tiết ra tạo thành acidlactic làm cho pH <5,5 không thuận lợi cho vi trùng gây bệnh phát triển. Ngoài ra niêm mạc âm đạo còn tiết ra một chất dịch dưới tác dụng của đám rối tĩnh mặch và bạch mạch có tác dụng diệt vi trùng.

Viêm nhiễm đường sinh dục dưới: Viêm nhiễm đường sinh dục dưới gồm: viêm nhiễm Âm hộ, viêm nhiễm Âm đạo, viêm Cổ tử cung (CTC). Về lâm sàng, khó có thể phân biệt được đâu là VNSD do bệnh phụ khoa thông thường, đau là VNSD do bệnh lây truyền qua đường tình dục(LTQĐTD). Bản thân người phụ nữ cũng không thể phân biệt được mình đang bị mắc bệnh phụ khoa thông thường hay đang bị bệnh LTQĐTD. Do vậy VNĐSD đề cập ở đây là cả viêm nhiễm do vi khuẩn thông thường và viêm nhiễm do bệnh LTQĐTD.

VNĐSD có khi không có biểu hiện triệu chúng như Chlamydia, phụ nữ thường ra khí hư trắng màu vàng, xanh có thể là có mùi hôi gây ngứa ngáy khó chịu và các biểu hiện khác được phân vào các hội chứng sẽ được trình bày dưới đây: Viêm nhiễm đường sinh dục (VNĐSD) bao gồm cả các bệnh lây truyền qua đường tình dục (LTQĐTD) là vấn đề sức khỏe đang gia tăng tại Việt Nam. Theo số liệu báo cáo của Viện Da liễu Quốc gia, mỗi năm chỉ riêng các bệnh LTQĐTD có khoảng hơn 130.000 trường hợp mắc, tuy nhiên con số này được cho là thấp hơn thực tế và con số thực tế được ước lượng là 1 triệu trường hợp vì con số trên không bao gồm số liệu báo cáo của hệ thống y tế tư nhân. Một vài nét cơ bản ở Việt Nam có liên quan đến viêm nhiễm đường sinh dục: Tỷ lệ sử dụng các biện pháp tránh thai ( BPTT) tại Việt Nam khá cao cho tất cả các loại cũng như cho biện pháp tránh thai hiện đại. Dụng cụ tử cung (DCTC) được sử dụng nhiều nhất chiểm tỷ lệ 57%.

Tuy nhiên với tỷ lệ phá thai là 83,3 trong số 1000 phụ nữ, Việt Nam vẫn nằm trong nhóm các nước có tỷ lệ phá thai cao nhất thế giới. Viêm nhiễm đường sinh dục: 1. Phương pháp tiếp cận hội chứng: Phương pháp này đã được Bộ y tế hướng dẫn sử dụng quản lý các nhiễm khuẩn đường sinh sản và các bệnh LTQĐTD trong cuốn “Hướng dẫn chuẩn Quốc gia về các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản”. Phương pháp này chủ yếu dùng cho tuyến chăm sóc sức khỏe xã/phường và quân/huyện.

Phương pháp tiếp cận này chia các biểu hiện lâm sàng của VNĐSD thành 5 hội chứng chính. Nhân viên y tế dựa vào 5 hội chứng này để điều trị sớm các VNĐSD thường gặp một cách hiệu quả nhất. Các hội chứng bao gồm: - Hội chứng tiết dịch âm đạo bao gồm: viêm Âm đạo do Trùng roi, nấm nem, Candida, vi khuẩn kỵ khí, viêm CTC mủ nhầy do lậu cầu khuẩn và/hoặc C. - Hội chứng tiết dịch niệu đạo ở nam do lậu cầu, C.

- Hội chứng đau bụng dưới ở phụ nữ (viêm tiểu khung) do các tác nhân: Lậu cầu, C.trachomatis, Gardnerella vaginalis và các vi khuẩn kỵ khí âm đạo. - Hội chứng loét sinh dục ở nam và nữ do các tác nhân: Xoắn khuẩn giang mai, trực khuẩn hạ cam Herpes sinh dục. - Bệnh sùi mào gà sinh dục ở nam và nữ do virút sùi mào gà. Các thể lâm sàng: 1.

Viêm Âm hộ: - Âm hộ viêm đỏ, ngứa, xung huyết, phù nề, loét hoặc vết trắng âm hộ - Có thể thấy mủ vàng, xanh chảy ra từ các lỗ của tuyến Skene, tuyến Bartholin. - Các nguyên nhân gây viêm âm hộ là do vi khuẩn từ đường tiêu hóa, tiết niệu lan sang như: Coli, liên cầu, tụ cầu hoặc do vi khuẩn lậu. Viêm Âm đạo: *Viêm Âm đạo do trùng roi (Trichomonas vaginalis): - Bệnh lây qua quan hệ tình dục là chủ yếu, ngoài ra bệnh còn có thể lây qua bồn tắm, khăn tắm ẩm ướt. - Khoảng ¼ số người mắc không có biểu hiện bệnh lý + Khí hư: Số lượng nhiều, loãng, có bọt như bọt xà phòng màu vàng xanh mùi hôi (mùi hôi không mất đi khi rửa) + Có thể kèm theo ngứa, đi tiểu khó và đau khi giao hợp - Khám âm hộ, âm đạo, CTC đỏ, phù nề có nhiều khí hư màu vàng xanh loãng và có bọt ở cùng đồ.

Xét nghiệm: + Lấy 1 giọt dịch khí hư cho vào 1 – 2 giọt nước muối sinh lý soi tươi thấy có trùng roi hình hạt chanh di động. + Test sniff (+) *Viêm Âm đạo do nấm: Căn nguyên do nấm Candida (chủ yếu là Candida albicaris) - Biểu hiện triệu chứng thường ngứa nhiều ở âm hộ. Khí hư có màu trắng đục như váng sữa, không hôi, số lượng nhiều. Có thể kèm đi tiểu khó, đau khi giao hợp.

- Khám âm hộ, âm đạo viêm đỏ có thể bị xây xước, nhiễm khuẩn do gãi, trường hợp nặng bị viêm cả vùng tầng sinh môn và đùi, bẹn. Khí hư thường nhiều, màu trắng như váng sữa thành mảng dày dính vào thành âm đạo, CTC ở dưới có vết trợt đỏ. - Xét nghiệm: + Soi tươi hoặc nhuộm Gram tìm nấm nem. Nuôi cấy ở môi trường Sapouraud.

+ Test sniff (-), đo pH<= 4. *Viêm Âm đạo do vi khuẩn : 7 Là viêm âm đạo không đặc hiệu do các vi khuẩn kỵ khí nội sinh tăng sinh tại âm đạo. Người bệnh ra khí hư nhiều hoặc ít nhưng không có biểu hiện đau, không có viêm âm hộ, viêm âm đạo. Căn nguyên chủ yếu do vi khuẩn Gardnerella vaginalis và có thể phối hợp với một số vi khuẩn yếm khi khác.

- Biểu hiện triệu chứng bệnh là ra khí hư nhiều, mùi hôi màu trắng xám, đồng nhất như kem phết đều vào thành âm đạo một lớp mỏng, không có viêm âm đạo. - Xét nghiệm : + Soi tươi hoặc nhuộm Gram có tế bào biểu mô âm đạo, có bờ không đều, dính các vi khuẩn, đó là các tế bào chứng cứ (Clue celis). + Test sniff (+), đo pH> 4,5 1. Vai trò của vi khuẩn trong viêm âm đạo do vi khuẩn: Âm đạo bình thường có rất nhiều loài vi khuẩn khác nhau, các vi khuẩn tham gia vào viêm âm đạo do vi khuẩn rất đa dạng.

Sự thay đổi trong hệ vi khuẩn bình thường bao gồm việc giảm Lactobacilli, có thể do việc sử dụng kháng sinh hay mất cân bằng pH âm đạo giữa các nhóm phụ nữ khác nhau hoặc trên cùng một phụ nữ ở những thời gian khác nhau. Viêm âm đạo do vi khuẩn không phải là một nhiễm trùng theo nghĩa thông thường mà là sự mất cân đối hệ vi khuẩn, trong đó, có sự phát triển quá mức hoặc sự suy giảm của các loài vi khuẩn bình thường vẫn cư trú ở âm đạo người. Gardnerella vaginalis là một loại trực khuẩn nhỏ Gram âm, cùng họ với Haemophilus. Chúng thường ký sinh ở đường sinh dục, khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ gây bệnh.

vaginalis gây viêm tại chỗ, khí hư thuần nhất, dính như hồ loãng. Vi khuẩn kị khí: lần đầu tiên phân lập được vi khuẩn kị khí hình que, hình cầu trong âm đạo phụ nữ có tiết dịch âm đạo. Genital Mycoplasma: 8 Các Mycoplasma và vi sinh vật thuộc nhóm Mollicutes chuyển tiếp từ vi khuẩn kị khí (clostridia) bằng phân đoạn gen. Trong 16 loài Mycoplasma ở người, có 6 loài xuất hiện ở hệ tiết niệu sinh dục.

Chẩn đoán viêm âm đạo: Viêm âm đạo ngày càng được quan tâm do còn nhiều vấn đề về căn nguyên và điều trị chưa rõ ràng. Hiện nay, có một số tác giả đề xuất các tiêu chuẩn chẩn đoán khác nhau. Có rất nhiều kỹ thuật phát hiện các tác nhân gây viêm âm đạo. Phương pháp soi trực tiếp và nhuộm Gram có thể được dùng để xác định các căn nguyên gây viêm âm đạo.

Kỹ thuật vi sinh chẩn đoán trực tiếp: - Kỹ thuật soi trực tiếp (soi tươi) có khả năng phát hiện trùng roi âm đạo, nấm Candida. - Khảo sát tiêu bản nhuộm Gram nhận định lậu cầu khuẩn, quần thể vi khuẩn trong viêm âm đạo do vi khuẩn… - Nuôi cấy định danh Candida albicans - Nuôi cấy – đinh danh – kháng sinh đồ đối với N. Đánh giá bằng kỹ thuật soi tươi: Soi tươi bệnh phẩm dịch âm đạo phát hiện nấm men, trùng roi Trichomonas vaginalis. - Lấy bệnh phẩm và làm tiêu bản: + Đặt mỏ vịt, dùng que tăm bông hoặc khuyên cấy lấy dịch âm đạo ở thành âm đạo, cùng đồ âm đạo.

+ Làm tiêu bản: nhỏ một giọt nước muối sinh lý NaCl 0,9% vô trùng lên lam kính, nhúng tăm bông vào giọt nước muối, đậy lá kính lên giọt bệnh phẩm. - Nhận định kết quả bằng quan sát trực tiếp: Khảo sát dưới kính hiển vi vật kính x10, x40: 9 + Nấm men Candida: dưới kính hiển vi có thể thấy dạng tế bào nấm men, hình bầu dục có nảy búp, có hoặc không có sợi tơ nấm giả. Nếu nhuộm Gram tế bào nấm men bắt màu Gram (+).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ