Luận văn thạc sĩ ussh thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp chuyên ngành công tác xã hội nghiên cứu trường hợp sinh viên tốt nghiệp trường đại học khoa học xã hội và nhân văn

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng việc làm của sinh viên ngành công tác xã hội sau khi tốt nghiệp tại trường đại học khoa học xã hội và nhân văn.

Chuyên ngành

Xã hội học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sỹ

2019

120
4
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu đề tài

0.3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3.1. Mục đích nghiên cứu

0.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

0.4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

0.5. Câu hỏi nghiên cứu

0.6. Giả thuyết nghiên cứu

0.7. Phương pháp thu thập thông tin

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Những khái niệm công cụ

1.2. Quan điểm của Nhà nước Việt Nam đương đại về định hướng phát triển nghề Công tác xã hội hiện nay

1.3. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

2.1. Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm

2.2. Thời điểm có việc làm của sinh viên

2.3. Sự phù hợp với công việc hiện tại và chuyên môn được đào tạo

2.4. Môi trường làm việc của sinh viên tốt nghiệp

2.5. Thu nhập của sinh viên tốt nghiệp

2.6. Di động nghề nghiệp của sinh viên tốt nghiệp

3. CHƯƠNG 3: CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUÁ TRÌNH TÌM KIẾM VIỆC LÀM CỦA SINH VIÊN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

3.1. Ảnh hưởng của việc đi làm thêm trong quá trình học tập đến việc tham gia vào các môi trường làm việc

3.2. Ảnh hưởng của yếu tố nguồn thông tin tìm kiếm việc làm của SVTN

3.3. Ảnh hưởng của yếu tố nguồn hỗ trợ trong quá trình tìm kiếm việc làm của SVTN

3.4. Một số yếu tố khác tác động vào quá trình tìm kiếm việc làm của SVTN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng việc làm của sinh viên ngành Công tác xã hội

Thực trạng việc làm của sinh viên ngành Công tác xã hội sau khi tốt nghiệp đang trở thành một vấn đề nóng bỏng trong bối cảnh thị trường lao động hiện nay. Nhiều sinh viên tốt nghiệp không tìm được việc làm phù hợp với chuyên ngành đào tạo, dẫn đến tình trạng thất nghiệp hoặc làm trái ngành. Theo nghiên cứu của Nguyễn Khánh Duy (2019), tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm chỉ đạt khoảng 60%, cho thấy sự cần thiết phải đánh giá lại chất lượng đào tạo và nhu cầu thị trường.

1.1. Tình hình việc làm của sinh viên sau tốt nghiệp

Nghiên cứu cho thấy rằng nhiều sinh viên ngành Công tác xã hội gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm. Tỷ lệ sinh viên có việc làm sau khi tốt nghiệp chỉ đạt 60%, trong khi đó, nhiều sinh viên phải làm những công việc không liên quan đến chuyên ngành của mình.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc làm của sinh viên

Có nhiều yếu tố tác động đến việc làm của sinh viên, bao gồm chất lượng đào tạo, kỹ năng mềm, và khả năng thích ứng với yêu cầu của nhà tuyển dụng. Nhiều sinh viên chưa đáp ứng được yêu cầu về ngoại ngữ và kỹ năng thực hành, dẫn đến khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm.

II. Thách thức trong việc tìm kiếm việc làm của sinh viên ngành Công tác xã hội

Sinh viên ngành Công tác xã hội đang phải đối mặt với nhiều thách thức trong việc tìm kiếm việc làm. Tình hình kinh tế khó khăn, nhu cầu tuyển dụng giảm sút, và sự cạnh tranh khốc liệt từ các ngành nghề khác là những yếu tố chính ảnh hưởng đến khả năng tìm việc của sinh viên. Theo báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á, khả năng thích ứng và kỹ năng chuyên môn là hai yếu tố quan trọng để sinh viên có thể cạnh tranh trên thị trường lao động.

2.1. Tình hình kinh tế và ảnh hưởng đến việc làm

Kinh tế Việt Nam đang trải qua giai đoạn khó khăn, ảnh hưởng đến nhu cầu tuyển dụng lao động. Nhiều doanh nghiệp cắt giảm nhân sự, dẫn đến việc sinh viên ngành Công tác xã hội gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm phù hợp.

2.2. Sự cạnh tranh từ các ngành nghề khác

Sự cạnh tranh từ các ngành nghề khác cũng là một thách thức lớn. Nhiều sinh viên tốt nghiệp từ các ngành khác có kỹ năng và kinh nghiệm hơn, khiến sinh viên ngành Công tác xã hội gặp khó khăn trong việc tìm kiếm việc làm.

III. Phương pháp nâng cao khả năng tìm việc cho sinh viên ngành Công tác xã hội

Để nâng cao khả năng tìm việc cho sinh viên ngành Công tác xã hội, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc cải thiện chất lượng đào tạo, tăng cường kỹ năng mềm và tạo cơ hội thực tập là những yếu tố quan trọng. Các trường đại học cần hợp tác chặt chẽ với doanh nghiệp để nắm bắt nhu cầu thị trường và điều chỉnh chương trình đào tạo cho phù hợp.

3.1. Cải thiện chất lượng đào tạo

Cần nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường đại học, đặc biệt là trong việc trang bị cho sinh viên những kỹ năng cần thiết để đáp ứng yêu cầu của nhà tuyển dụng. Việc cập nhật chương trình đào tạo theo nhu cầu thực tế là rất quan trọng.

3.2. Tăng cường kỹ năng mềm cho sinh viên

Kỹ năng mềm như giao tiếp, làm việc nhóm và giải quyết vấn đề là rất cần thiết. Các trường cần tổ chức các khóa học, hội thảo để giúp sinh viên phát triển những kỹ năng này.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về việc làm của sinh viên

Nghiên cứu về thực trạng việc làm của sinh viên ngành Công tác xã hội đã chỉ ra rằng nhiều sinh viên đã tìm được việc làm phù hợp với chuyên ngành. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận lớn sinh viên phải làm việc trái ngành. Việc này không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập mà còn đến sự phát triển nghề nghiệp của họ.

4.1. Kết quả tìm việc của sinh viên

Theo nghiên cứu, khoảng 40% sinh viên ngành Công tác xã hội tìm được việc làm đúng chuyên ngành sau 6 tháng tốt nghiệp. Tuy nhiên, con số này vẫn còn thấp so với các ngành khác.

4.2. Tác động của việc làm trái ngành

Việc làm trái ngành không chỉ ảnh hưởng đến thu nhập mà còn làm giảm động lực và sự phát triển nghề nghiệp của sinh viên. Nhiều sinh viên cảm thấy không hài lòng với công việc hiện tại, dẫn đến tình trạng chán nản và thiếu động lực.

V. Kết luận và định hướng tương lai cho sinh viên ngành Công tác xã hội

Kết luận, thực trạng việc làm của sinh viên ngành Công tác xã hội hiện nay đang gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, với những giải pháp cụ thể và sự nỗ lực từ cả phía nhà trường và sinh viên, có thể nâng cao tỷ lệ sinh viên có việc làm đúng ngành. Định hướng tương lai cần tập trung vào việc cải thiện chất lượng đào tạo và phát triển kỹ năng cho sinh viên.

5.1. Định hướng phát triển nghề nghiệp cho sinh viên

Cần có những chương trình định hướng nghề nghiệp rõ ràng cho sinh viên, giúp họ hiểu rõ hơn về thị trường lao động và các cơ hội việc làm trong ngành Công tác xã hội.

5.2. Tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp

Hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp là rất quan trọng để tạo ra cơ hội thực tập và việc làm cho sinh viên. Điều này không chỉ giúp sinh viên có kinh nghiệm thực tế mà còn giúp nhà trường điều chỉnh chương trình đào tạo cho phù hợp với nhu cầu thị trường.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh thực trạng việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp chuyên ngành công tác xã hội nghiên cứu trường hợp sinh viên tốt nghiệp trường đại học khoa học xã hội và nhân văn

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của đề tài 1. Những khái niệm công cụ 1. Việc làm Có rất nhiều định nghĩa về việc làm đứng trên nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau, nhằm sáng tỏ khái niệm việc làm. Và ở các quốc gia khác nhau, do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như điều kiện kinh tế, chính trị, pháp luật… mà người ta cũng có những quan niệm về việc làm khác nhau.

Chính vì vậy mà chưa có một định nghĩa chung và khái quát nhất về việc làm. ILO (International Labour Organization) đưa ra khái niệm người có việc làm là những người làm việc gì đó được trả tiền công, lợi nhuận hoặc được thanh toán bằng hiện vật hoặc những người tham gia vào hoạt động mang tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập gia đình không được nhận tiền công hoặc hiện vật [37, tr. Khái niệm này còn được đưa ra tại Hội nghị quốc tế lần thứ 13 của các nhà thống kê lao động ILO. Còn người thất nghiệp là những người không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm hoặc đang chờ được trả lại làm việc.

ILO còn có nhiều công ước và khuyến nghị liên quan đến vấn đề việc làm, trong đó có 1 số công ước quan trọng như công ước số 47 (1935), Công ước số 88 (1948), Công ước 122 (1964)… Còn theo quan niệm của Việt Nam, đã từ lâu kể từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường, cùng với đó là quan niệm về việc làm và những vấn đề liên quan như thất nghiệp, chính sách giải quyết việc làm cũng có sự thay đổi cơ bản Điều 55 Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 quy định: “Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho NLĐ”. Quan niệm này đã mở ra bước chuyển căn bản trong nhận thức về việc làm. Trên cơ sở này, Bộ luật Lao động Việt Nam đã quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” ( Điều 13 Bộ luật lao động).

19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, dưới góc độ pháp lý, việc làm được cấu thành bởi 3 yếu tố: - Là hoạt động lao động: thể hiện sự tác động của sức lao động vào tư liệu sản xuất để tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ. Yếu tố lao động trong việc làm phải có tính hệ thống, tính thường xuyên và tính nghề nghiệp. Vì vậy người có việc làm thông thường phải là những người thể hiện các hoạt động lao động trong phạm vi nghề nhất định và trong thời gian tương đối ổn định. - Tạo ra thu nhập: Là khoản thu nhập trực tiếp và khả năng tạo ra thu nhập.

- Hoạt động này phải hợp pháp: hoạt động lao động tạo ra thu nhập nhưng trái pháp luật, không được pháp luật thừa nhận thì không được coi là việc làm. Tùy theo điều kiện kinh tế-xã hội, tập quán, quan niệm về đạo đức của từng nước mà pháp luật có sự quy định khác nhau trong việc xác định tính hợp pháp của các hoạt động lao động được coi là việc làm. Đây là dấu hiệu thể hiện đặc trưng tính pháp lí của việc làm. Dưới góc độ kinh tế xã hội, hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của loài người nói chung và con người nói riêng.

Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm. Việc làm trước hết là nhu cầu của mỗi cá nhân, xuất phát từ nhu cầu của bản thân nên tiến hành các hoạt động nhất định. Họ có thể tham gia hoạt động nào đó để được trả công hoặc tham gia vào các hoạt động mang tính chất tự sản tự tiêu như dùng các tư liệu sản xuất kinh doanh nhằm thu lợi nhuận hoặc tự tạo ra những sản phẩm cho hộ gia đình mình. Ngoài nhu cầu cá nhân, việc làm còn là nhu cầu của cộng đồng của xã hội.

Sở dĩ có sự phát sinh này là do: con người không sống đơn lẻ và hoạt động lao động của mỗi cá nhân cũng không đơn lẻ mà nằm trong tổng thể các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, sử dụng của xã hội. Hơn nữa, việc làm và thu nhập không phải là vấn đề mà lúc nào mỗi cá nhân NLĐ cũng quyết định được. Sự phát triển quá nhanh của dân số, mức độ tập trung tư liệu sản xuất ngày càng cao vào tay một số cá nhân dẫn đến tình trạng xã hội ngày càng có nhiều người không có khả năng tự tạo việc làm. Trong điều kiện đó, mỗi cá nhân phải huy động mọi khả năng của bản thân để tự tìm việc làm cho mình, phải cạnh tranh để tìm việc làm.

20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tóm lại, xét về phương diện kinh tế- xã hội, có thể hiểu việc làm là các hoạt động tạo ra, đem lại lợi ích, thu nhập cho người lao động được xã hội thừa nhận. Như vậy, việc làm có hai đặc tính cơ bản: Một là, xét dưới khía cạnh kinh tế, việc làm chính đáng là hoạt động của con người tạo ra thu nhập; hoặc tạo ra những sản phẩm có lợi ích cho con người và xã hội Hai là, dưới khía cạnh pháp lý của mỗi quốc gia, hoạt động tạo ra thu nhập đó chỉ được coi là việc làm khi hoạt động đó không bị pháp luật quốc gia đó cấm. Trên thực tế, có nhiều hoạt động tạo ra thu nhập nhưng bị pháp luật ngăn cấm thì không được thừa nhận là việc làm; mặt khác có những hoạt động không bị pháp luật cấm, không tạo ra thu nhập cũng có thể coi là việc làm nếu tạo ra những sản phẩm tự sản, tự tiêu có ích lợi với cá nhân và xã hội 1. Thất nghiệp Vấn đề thất nghiệp đã được nhiều nước, nhiều tổ chức, nhiều nhà khoa học bàn luận.

Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội và chính trị mà cũng còn nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề thất nghiệp. Tại Cộng hòa Liên bang Đức, luật Bảo hiểm thất nghiệp quy định rằng thất nghiệp là người lao động tạm thời không có quan hệ lao động hoặc chỉ thực hiện công việc ngắn hạn [34, tr. Ở Pháp người ta cho rằng, thất nghiệp là không có việc làm, có điều kiện làm việc, đang đi tìm việc làm [37, tr. Thái Lan định nghĩa về thất nghiệp khẳng định: “Thất nghiệp được hiểu là không có việc làm, muốn có việc làm, có năng lực làm việc [38, tr.

Trung Quốc định nghĩa về thất nghiệp như sau: “Thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động (dân thành thị) có khả năng lao động, chưa có việc làm, đang đi tìm việc làm, đăng ký tại cơ quan giải quyết việc làm [36, tr. Theo tổ chức Lao động quốc tế (ILO), “Thất nghiệp là tình trạng tồn tại một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức lương thịnh hành”. Hội nghị Thống kê Lao động Quốc tế lần thứ tám năm 1954 tại Geneva đưa ra định nghĩa: “Thất nghiệp là người đã qua một độ tuổi xác định mà trong một ngành hoặc một tuần xác định, thuộc những loại sau đây:[33, tr26]: 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com  Người lao động có thể đi làm nhưng hết hạn hợp đồng hoặc bị tạm ngừng hợp đồng, đang không có việc làm và đang tìm việc làm  Người lao động có thể đi làm trong một thời gian xác định và đang tìm việc làm có lương mà trước đó chưa hề có việc làm, hoặc vị trí hành nghề cuối cùng trước đó không phải là người làm công ăn lương (ví dụ người sử dụng lao động chẳng hạn) hoặc đã thôi việc.  Người lao động không có việc làm và có thể đi làm ngay và đã có sự chuẩn bị cuối cùng để làm một công việc mới và một ngày nhất định sau một thời kỳ đã được xác định.

 Người phải nghỉ việc tạm thời hoặc không thời hạn mà không có lương Có thể thấy, các định nghĩa tuy có khác nhau về mức độ, giới hạn (tuổi, thời gian mất việc) nhưng đều thống nhất người thất nghiệp ít nhất phải có 3 đặc trưng:  Có khả năng lao động  Đang không có việc làm  Đang đi tìm việc làm Tại Việt Nam thất nghiệp được hiểu là những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu việc làm, đang không có việc làm[40]. Luật 71/2006/QH11 của Quốc hội: Luật Bảo hiểm xã hội quy định rằng người thất nghiệp là người đang đóng bảo hiểm thất nghiệp mà bị mất việc làm hoặc chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc nhưng chưa tìm được việc làm [41]. Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội Số người có việc làm Tỷ lệ thất nghiệp = 100% x Tổng số lao động xã hội 1. Sinh viên tốt nghiệp Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng, trung cấp.

Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những bằng cấp đạt được trong quá trình học. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, sinh viên là những người trẻ, học tập trong môi trường đại học, cao đẳng, là những môi trường tri thức cao, họ được tiếp cận những tri thức tân tiến nhất của nhân loại, là những chủ nhân tương lai của đất nước. Chính vì vây, Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng nói: “Phải làm cho sinh viên, học sinh nắm được những kiến thức hiện đại nhất”[46] Sinh viên tốt nghiệp là những sinh viên đã hoàn thành toàn bộ chương trình học tại trường Cao đẳng hoặc Đại học, được công nhận và cấp bằng tốt nghiệp.

Những người này còn có một cách gọi khác là Cựu sinh viên. Như vậy, với các định nghĩa trên, ta có thể khái quát Việc làm của SVTN chuyên ngành Công tác xã hội là hoạt động tạo ra giá trị vật chất và phi vật chất của những người đã hoàn thành chương trình học tập bậc đại học về chuyên ngành Công tác xã hội tại các cơ sở đào tạo. Hoạt động tạo ra giá trị có thể được đo bằng thu nhập, mức độ ổn định công việc,… 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Thực trạng việc làm của sinh viên ngành Công tác xã hội sau tốt nghiệp" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình việc làm của sinh viên trong lĩnh vực công tác xã hội, từ đó giúp người đọc hiểu rõ hơn về những thách thức và cơ hội mà họ phải đối mặt. Bài viết nêu bật các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tìm kiếm việc làm, cũng như những kỹ năng cần thiết để thành công trong ngành này. Đặc biệt, tài liệu còn chỉ ra những xu hướng mới trong thị trường lao động, giúp sinh viên và các nhà quản lý giáo dục có cái nhìn tổng quan hơn về nhu cầu nhân lực trong tương lai.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến việc làm và phát triển nguồn nhân lực, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ luật học pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm đối với người khuyết tật ở việt nam, nơi khám phá các chính sách việc làm cho nhóm người yếu thế; Luận án tiến sĩ chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động việt nam đi làm việc ở nước ngoài khi về nước, cung cấp cái nhìn về các chính sách hỗ trợ việc làm cho người lao động; và Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng nghiên cứu đề xuất các giải pháp tăng cường công tác quản lý an toàn lao động trong xây dựng công trình trung tâm dạy nghề huyện mường chà tỉnh điện biên, giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý an toàn lao động trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về thị trường lao động và các chính sách liên quan.