CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về kinh tế hợp tác và hợp tác xã 1. Bản chất của kinh tế hợp tác và hợp tác xã 1. Bản chất của kinh tế hợp tác Hợp tác là sự kết hợp sức lực của những người hoặc những đơn vị, tổ chức để tạo nên sức mạnh lớn hơn, nhằm thực hiện những công việc mà mỗi người, mỗi đơn vị, tổ chức hoạt động độc lập sẽ gặp khó khăn, thậm chí không thực hiện được, hoặc thực hiện được nhưng hiệu quả kém hơn so với hợp tác [1].
Hợp tác là hình thức tất yếu trong hoạt động kinh tế, lao động sản xuất của con người. Hợp tác bắt nguồn từ tính chất xã hội của hoạt động nói chung, của hoạt động kinh tế và lao động sản xuất nói riêng của con người. Do đó, sự phát triển của hợp tác gắn liền và quy định bởi tiến trình phát triển kinh tế xã hội của loài người. Trong lao động sản xuất, hợp tác có tác dụng kích thích, thúc đẩy phát triển kinh tế.
Kinh tế hợp tác là một hình thức hợp tác trong lĩnh vực kinh tế trên cơ sở tự nguyện, phối hợp, hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau giữa các chủ thể kinh tế, tổng hợp sức mạnh của từng thành viên. Với ưu thế và sức mạnh của tập thể nhằm giải quyết những vấn đề sản xuất kinh doanh và đời sống kinh tế một cách tốt hơn, nhằm hoạt động có hiệu quả và đem lại lợi ích cao hơn cho mỗi thành viên tham gia hợp tác [1]. Kinh tế hợp tác là một hình thức kinh tế mà nhờ đó các đơn vị kinh tế tự chủ (kinh tế hộ gia đình) có điều kiện phát triển. Kinh tế hợp tác của người lao động là việc cùng chung sức, chung vốn để tiến hành một công việc, một lĩnh vực hoạt động sản xuất dịch vụ nào đó theo kế hoạch nhằm mục đích chung và mang lại lợi ích cho các thành viên tham gia hợp tác.
Kinh tế hợp tác tồn tại dưới hai hình thức là tổ hợp tác và HTX: + Kinh tế hợp tác giản đơn (tổ hợp tác): như tổ, hội nghề nghiệp; tổ, nhóm hợp tác; tổ kinh tế hợp tác thường gọi tắt là "tổ hợp tác". + Hợp tác xã là loại hình kinh tế hợp tác phát triển ở trình độ cao hơn loại hình kinh tế hợp tác giản đơn. Là một tổ chức kinh tế do những người lao động, các đơn vị kinh tế tự chủ có nhu cầu tự nguyện góp vốn, góp sức thành lập theo quy định của pháp luật, nhằm giúp đỡ nhau cùng phát triển. 5 Kinh tế hợp tác mà đỉnh cao là hợp tác xã đang là hình thức kinh tế hợp tác phổ biến ở các nước trên thế giới, đóng vai trò là bà đỡ tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp.
thúc đẩy thương mại dịch vụ, trao đổi hàng hoá, góp phần làm cho kinh tế ngày càng phát triển, đặc biệt ở nông thôn [1].2 Bản chất của hợp tác xã Ở nhiều nước trên thế giới, hợp tác xã đã hình thành và phát triển hơn 100 năm. Có nhiều cách định nghĩa về hợp tác xã: - Liên minh hợp tác xã quốc tế (International Cooperative Alliance - ICA) được thành lập tháng 8 năm 1895 tại Luân Đôn, vương quốc Anh đã định nghĩa hợp tác xã như sau: "Hợp tác xã là một tổ chức tự trị của những người tự nguyện liên hiệp lại để đáp ứng các nhu cầu và nguyện vọng chung của họ về kinh tế, xã hội và văn hoá thông qua một Xí nghiệp cùng sở hữu và quản lý dân chủ" [18]. Năm 1995, định nghĩa này vẫn được giữ nguyên trong Bản tuyên bố của ICA về HTX. - Tổ chức lao động quốc tế (International Labour Organization - ILO) định nghĩa hợp tác xã là sự liên kết những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản của hộ đã chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung [18].
Ở Việt Nam, định nghĩa mới nhất về hợp tác xã (theo Luật HTX 2012) như sau: "Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã" [10]. Theo kết quả nghiên cứu RS - 04, 2012 của Ủy ban Kinh tế của Quốc hội và UNDP tại Việt Nam: Về mặt bản chất, HTX khác với các hình thức tổ chức kinh tế khác (doanh nghiệp) ở hai điểm chính: (i) HTX là hiệp hội các cá nhân đồng ý trở thành những người đồng sở hữu, người đưa ra các quyết định dân chủ và người khai thác doanh nghiệp chung; và (ii) mục tiêu cơ bản của HTX là đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng về mặt kinh tế, văn hóa và xã hội của xã viên. Hay nói cách khác, hợp tác xã là tổ chức kinh tế - xã hội khác với các loại hình doanh nghiệp về mục tiêu thành 6 lập (HTX đáp ứng các nhu cầu về kinh tế, văn hóa, xã hội của xã viên) và tổ chức hoạt động (HTX có tính dân chủ, tính tương trợ cao) [18]. Từ các định nghĩa trên cho thấy HTX có các đặc trưng cơ bản sau đây: Thứ nhất: HTX là tổ chức kinh tế - xã hội liên kết các cá nhân, hộ gia đình và pháp nhân, được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện nhằm đáp ứng các nhu cầu chung của xã viên theo nguyên tắc tương trợ.
HTX là nơi tập hợp và liên kết các cá nhân, qua đó họ (các xã viên) giúp đỡ lẫn nhau và hợp tác với nhau nhằm thực hiện các nhu cầu chung của họ về hàng hóa/dịch vụ/văn hóa/xã hội. Lý do cơ bản là các nhu cầu chung này của xã viên chỉ được đáp ứng hoặc được đáp ứng hiệu quả hơn thông qua HTX. Vì vậy, nếu HTX không đáp ứng được các nhu cầu chung của xã viên ở mức độ nhất định, sự liên kết và hợp tác giữa các thành viên sẽ bị yếu đi và HTX sẽ bị suy yếu. Với những lý do trên, HTX là một tổ chức kinh tế - xã hội liên kết các cá nhân được hình thành nhằm đáp ứng các nhu cầu chung của xã viên theo nguyên tắc tương trợ [11].
Thứ hai: HTX được thành lập nhằm đáp ứng cả nhu cầu kinh tế, văn hóa và xã hội của xã viên và cộng đồng. Khác với các doanh nghiệp được thành lập thuần túy vì mục đích là tối đa hóa lợi nhuận (mục tiêu kinh tế) của các nhà đầu tư (những người góp vốn), các HTX được thành lập nhằm đáp ứng cả các nhu cầu về văn hóa và xã hội của cả các xã viên và cộng đồng dân cư. Thứ ba: HTX là một tổ chức kinh tế tự chủ có tính dân chủ cao. HTX được thành lập trên cơ sở góp vốn của xã viên, những người đồng sở hữu HTX, vì vậy hợp tác xã là một đơn vị kinh tế tự chủ.
Tuy nhiên, HTX khác với các tổ chức kinh tế khác (các doanh nghiệp) ở tính dân chủ cao. Với tư cách là người quản lý, các xã viên HTX có quyền tham gia vào các quyết định của HTX một cách dân chủ. Là người làm thuê, các xã viên HTX được quyền hưởng các lợi ích cơ bản của người lao động là tiền lương và các quyền lợi liên quan khác. Điều này làm cho HTX khác với các doanh nghiệp có mục tiêu thuần túy về mặt thương mại.
Thứ tư: Tài sản chung của HTX là bất khả chuyển nhượng. Vốn góp của xã viên HTX ở nhiều nước có cách gọi khác nhau: dự phần xã hội, vốn góp điều lệ, cổ phần. Trong suốt quá trình tham gia HTX, xã viên chỉ được sở hữu tư nhân phần vốn góp ban đầu của họ; còn một phần tài sản hình thành từ hoạt động của HTX là tài sản chung không chia của HTX; trường hợp HTX bị giải thể, tài sản này phải được chuyển 7 giao cho chính quyền địa phương; trường hợp xã viên rút ra khỏi HTX, thì chỉ rút phần vốn đã góp. Sở hữu tài sản chung không phân chia là đặc điểm mang tính bản chất của HTX, phản ánh tính cộng đồng cao HTX.
Khái niệm hợp tác xã nông nghiệp: Cũng giống như bất cứ quá trình sản xuất nào trong nền kinh tế thị trường, hoạt động sản xuất nông nghiệp đều diễn ra các khâu như: bắt đầu từ việc nghiên cứu xác định nhu cầu thị trường, đến việc chuẩn bị và kết hợp các yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất, kết thúc bằng việc phân phối sản phẩm để thu tiền về. Chính vì thế là đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ và độc lập, các HTX nông nghiệp vẫn phải tiến hành đầy đủ các khâu trong quá trình kinh doanh nhằm mang lại lợi ích cho mình. Tuy vậy, khi tham gia vào thị trường để nâng cao sức cạnh tranh thì HTX phải phát huy thế mạnh của mình từ sự liên kết và hợp tác. Do đó, xét về mặt tổ chức sản xuất các HTX sẽ phân chia các khâu của qúa trình sản xuất để tiến hành chuyên môn hoá sản xuất và kinh doanh.
Trên cơ sở chuyên môn hoá sẽ hình thành một hệ thống các HTX nông nghiệp, trong đó bao gồm các HTX thực hiện một hoặc một số khâu hoặc toàn bộ quá trình sản xuất để tạo ra lương thực - thực phẩm để đáp ứng nhu cầu thị trường. Vì vậy, có thể có các HTX tiến hành nghiên cứu, dự báo thị trường nông sản - thực phẩm, HTX cung ứng các yếu tố phục vụ sản xuất như: vốn, máy móc thiết bị, điện, nước, phân bón, thuốc trừ sâu… và các HTX phục vụ việc bán hàng và phân phối hàng hoá thậm chí cả các HTX cung cấp lao động. Như vậy ta có thể hiểu: Hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức kinh tế tự chủ được các thành viên thành lập trên cơ sở tự nguyện, tiến hành các hoạt động sản xuất hoặc cung ứng các yếu tố phục vụ hoạt động sản xuất nhằm tạo ra các sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu xã hội.