Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề lý luận về sử dụng đất 1.1 Đất trồng lúa và tình hình sử dụng đất trồng lúa Đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác và đất trồng lúa có thể hiểu là loại đất mà ở đó có đủ các điều kiện về thổ nhưỡng cũng như khí hậu, thủy văn phù hợp cho sự phát triển của cây lúa. Đất đai nói chung và đất trồng lúa nói riêng có vị trí cố định trong không gian và có chất lượng không đồng nhất giữa các vùng, miền.
Mỗi vùng đất đai luôn gắn liền với các điều kiện tự, điều kiện kinh tế - xã khác nhau. Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần bố trí sử dụng đất hợp lý trên cơ sở khai thác lợi thế sẵn có của vùng trước áp lực từ sự gia tăng dân số, sự phát triển của xã hội làm cho nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càng tăng làm giảm diện tích và chất lượng đất sản xuất trồng lúa. Năm 2009, Việt Nam có 24997,2 nghìn ha đất nông nghiệp, bình quân diện tích là 2899,55 m2/người. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 156681,9 tỷ đồng, trong đó trồng trọt là 122,37 tỷ đồng, chăn nuôi đạt 30938,6 tỷ đồng và nuôi trồng thủy sản là 3367,6 tỷ đồng.
Trong trồng trọt, cây lúa đạt giá trị sản xuất là 70059,8 tỷ đồng; cây rau đậu đạt 10560,4 tỷ đồng; cây công nghiệp là 31015,4 tỷ đồng và cây ăn quả đạt 9083,7 tỷ đồng [33].2 Đặc điểm sử dụng đất trồng lúa vùng khí hậu nhiệt đới Họat động sản xuất trồng lúa là một ngành sản xuất quan trọng, đặc biệt ở các nước đang phát triển, sản xuất lúa gạo không chỉ đảm bảo nhu cầu lương thực, thực phẩm cho con người mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho mỗi quốc gia. n 4 Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3,3 tỉ ha đất nông nghiệp, trong đó đã khai thác được 1,5 tỉ ha, diện tích đất trồng lúa lại chỉ chiếm 0,85 tỉ ha; còn lại phần đa là đất xấu, sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu như hiện nay. Qui mô đất nông nghiệp được phân bố như sau: châu Mỹ chiếm 35%, châu Á chiếm 26%, châu Âu chiếm 13%, châu Phi chiếm 20%.3 Vấn đề suy thoái đất trồng lúa Hiện tượng suy thoái đất trồng lúa có liên quan chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường. Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng.
Trong điều kiện hầu hết đất trồng lúa đều bị nghèo về độ phì, để tăng vụ và năng suất cây trồng đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con đường sử dụng phân bón. Có thể thấy đất đai đang bị suy thoái do những hoạt động của con người. Trong đó hoạt động sản xuất trồng lúa là một nguyên nhân không nhỏ làm suy thoái đất. Quá trình thâm canh tăng vụ trong trồng lúa, thay đổi chút ít địa hình cho phù hợp với điều kiện canh tác, việc cơ giới hóa máy nông nghiệp không khoa học đã làm phá huỷ cấu trúc đất, xói mòn và suy kiệt dinh dưỡng.
Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng N, P, K, Ca và Mg. Để đảm bảo đủ dinh dưỡng, đất không bị thoái hoá thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên. Trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lúa, đất có dinh dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu. Trong điều kiện nền kinh tế kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lúa đã gây ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất.
Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường. n 5 Trên thế giới hàng năm có khoảng 15% diện tích đất bị suy thoái vì lý do nhân tạo, trong đó suy thoái vì xói mòn do nước chiếm khoảng 55,7% diện tích, do gió 28% diện tích, mất chất dinh dưỡng do rửa trôi 12,2% diện tích. Ở Ấn Độ, hàng năm mất khoảng 3,7 triệu ha đất trồng trọt. Mỗi năm lượng đất bị xói mòn tại các châu lục là: Châu Âu, Châu Úc, Châu Phi: 5 -10 tấn/ha, Châu Mỹ: 10 - 20 tấn/ha; Châu Á: 30 tấn/ha.
Hiện nay những vấn đề môi trường đã trở nên mang tính toàn cầu và được phân thành 2 loại chính: một loại gây ra bởi công nghiệp hoá và các kỹ thuật hiện đại, loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên. Hệ sinh thái nhiệt đới vốn cân bằng một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản tự nhiên, buộc con người phải chuyển hướng sản xuất trồng lúa theo hướng sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường, thoả mãn các yêu cầu của thế hệ hiện tại nhưng không làm tổn hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển trồng lúa bền vững và đó cũng là lối đi trong tương lai. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất bền vững 1.1 Các nguyên tác cơ bản: - Sử dụng đất trồng lúa với mục tiêu nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội trên cơ sở đảm bảo an ninh lương thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới xuất khẩu. - Sử dụng đất trồng lúa trong sản xuất trên cơ sở cân nhắc các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái và không làm ảnh hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết để đảm bảo cho khai thác sử dụng bền vững tài nguyên đất đai.
- Sử dụng đất trồng lúa theo nguyên tắc “Đầy đủ, hợp lý và hiệu quả”.2 Quan điểm sử dụng đất trồng lúa: - Duy trì và nâng cao các hoạt động sản xuất; - Giảm thiểu mức rủi ro trong sản xuất; - Bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, ngăn chặn sự thoái hoá đất và nước; - Có hiệu quả lâu bền; - Được xã hội chấp nhận. Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 1. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất Xem xét trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế. Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như hàng năm để khai thác đất.
Riêng đối với ngành trồng lúa, cùng với hiệu quả kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lúa gạo thu hoạch được, nhất là các loại lúa gạo cơ bản có ý nghĩa chiến lược. Sử dụng đất trồng lúa có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng, vật nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế giới. Nó không chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân, những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp. Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng: vấn đề hiệu quả sử dụng đất phải xem xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.1 Hiệu quả kinh tế Bản chất là làm sao với một diện tích đất trồng lúa nhất định sản xuất ra một khối lượng thóc gạo nhiều nhất với một lượng chi phí về vật chất (phân bón, thuốc trừ sâu.
và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về thóc, gạo của xã hội.2 Hiệu quả xã hội Hiệu quả xã hội hiện nay phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về việc ăn mặc và nhu cầu sống khác. Sử dụng đất trồng lúa phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá của địa phương thì việc sử dụng đất trồng lúa sẽ bền vững hơn.3 Hiệu quả môi trường Hiệu quả môi trường được thể hiện ở chỗ loại hình sử dụng đất trồng lúa phải bảo vệ được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi trường sinh thái và được phân ra theo nguyên nhân gây nên, gồm: - Hiệu quả hoá học môi trường là việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường. - Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại giữa cây lúa với đất, giữa cây lúa với các loại dịch hại trong các loại hình sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong trồng lúa mà vẫn đạt được mục tiêu đề ra. - Hiệu quả vật lý môi trường được thể hiện thông qua việc lợi dung tốt nhất tài nguyên khí hậu như ánh sáng, nhiệt độ, nước mưa của các kiểu sử dụng đất để đạt được sản lượng cao và tiết kiệm chi phí đầu vào.
Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất trồng lúa 1.1 Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sdđ trồng lúa - Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc. - Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển trồng lúa ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu [30].