CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1. Lý luận chung về thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái quát chặng đường phát triển chung của hệ thống thuế Việt Nam Hệ thống thuế của Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của Nhà nước, là công cụ hữu hiệu để Nhà nước thực hiện vai trò quản lý và phân phối thu nhập trong xã hội. Nhìn lại chặng đường phát triển, hệ thống thuế Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn: Giai đoạn 1945 -1955 Trong những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trước yêu cầu chi cho nhiệm vụ an ninh, quốc phòng và ổn định đời sống nhân dân, Đảng, Bác Hồ và Chính phủ quyết định xoá bỏ những chính sách nô dịch của chế độ thực dân phong kiến (thuế thân; chế độ độc quyền muối, rượu, thuốc phiện) để khuyến khích nhân dân tăng gia sản xuất, đóng góp tích cực để phục vụ kháng chiến.
Các chủ trương, chính sách và biện pháp tài chính, tiền tệ giai đoạn này đã khơi dậy lòng yêu nước của nhân dân, nhờ đó số thu NSNN đã bước đầu đáp ứng được nhu cầu cấp bách của chính quyền cách mạng non trẻ và tiếp sức cho cuộc kháng chiến chống Pháp đi đến thắng lợi. Giai đoạn 1956 -1975 Chính phủ ban hành một hệ thống thuế hoàn chỉnh và áp dụng thống nhất trên toàn miền Bắc (gồm có thuế nông nghiệp thu bằng hiện vật và 12 loại thuế thu bằng tiền) như: thuế doanh nghiệp, thuế lợi tức, thuế buôn chuyến, thuế hàng hóa, thuế sát sinh, thuế kinh doanh nghệ thuật. Thời gian 1966 -1975 là thời kỳ cải tạo và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, các loại thuế chủ yếu được điều chỉnh để phù hợp với tình hình trong giai đoạn này. Nguồn thu từ khu vực quốc doanh, tập thể và cá thể góp phần động viên cho sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc và chi viện cho miền Nam.
Giai đoạn này phải kể đến các nguồn thu từ ngoài nước như: viện trợ và vay nước ngoài. Bình quân năm từ 1961-1965 là 29% tổng thu NSNN; 1966-1970 là 60,6% và 1971-1975 là 60,3%. Với nỗ lực liên tục và bền bỉ của toàn ngành Thuế, cũng như sự ủng hộ của nhân dân đã góp phần quan trọng cho công cuộc kiến thiết miền Bắc, giải phóng miền Nam, đóng góp một phần vào thắng lợi chung của cả nước. 6 Giai đoạn 1976 -1989 Ngành Thuế đã tham mưu sửa đổi, cải tiến chính sách động viên và tạo nguồn thu trong nước, kết hợp với tranh thủ nguồn vốn nước ngoài dưới hình thức viện trợ, vay nợ, góp phần đóng góp cho NSNN có số thu ngày càng tăng, trong đó tỷ trọng thu trong nước giai đoạn 1976-1980 là 60,8% đã tăng lên 77,5% trong giai đoạn 1981- 1985, tỷ trọng số thu ngoài nước đã giảm tương ứng từ 39,2% xuống còn 22,5%.
Giai đoạn 1990 – 2000 Đây là thời kỳ cải cách thuế bước I. Hệ thống thuế cả nước tổ chức theo một hệ thống dọc từ trung ương đến địa phương, trên cơ sở hợp nhất ba tổ chức: Thuế Nông nghiệp; Thuế Công thương nghiệp và Thu Quốc doanh thành một đầu mối thống nhất là Tổng cục Thuế, chính thức đi vào hoạt động từ 01/10/1990 (Nghị định 281/HĐBT ngày 07/08/1990 của Hội đồng Bộ trưởng, nay là Chính phủ). Đa phần các sắc thuế đã được nâng lên thành luật như: Luật thuế Sử dụng đất nông nghiệp, Luật thuế Doanh thu, Luật Thuế Thu nhập doanh nghiệp, Luật thuế Tiêu thụ đặc biệt. Giai đoạn 2001 – 2015 Giai đoạn này là thời kỳ cải cách thuế bước II.
Giai đoạn này được chia ra hai thời kỳ: thời kỳ từ 2001-2010 thực hiện cải cách và hiện đại hóa ngành Thuế phù hợp với tình hình phát triển kinh tế và xu hướng hội nhập quốc tế. Luật Quản lý thuế ra đời và có hiệu lực từ 01/07/2007 đánh dấu một bước cải cách toàn diện về quản lý thuế theo hướng hiện đại, minh bạch, giảm chi phí tuân thủ cho cả người nộp thuế và cơ quan thuế. Trong thời kỳ 2011-2015, ngành Thuế đã và đang từng bước thực hiện Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011-2020 theo Quyết định số 732/QĐ - TTg (năm 2011) nhằm đạt được mục tiêu: Xây dựng ngành Thuế Việt Nam hiện đại, hiệu lực, hiệu quả; công tác quản lý thuế, phí và lệ phí thống nhất, minh bạch, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện dựa trên ba nền tảng cơ bản: thể chế chính sách thuế minh bạch, quy trình thủ tục thuế đơn giản, khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế; nguồn nhân lực có chất lượng, liêm chính; ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại, có tính liên kết, tích hợp, tự động hóa cao. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước ngày càng sâu rộng, ngành Thuế tiếp tục đổi mới, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Việt Nam đã ký Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với 70 quốc gia và 2 vùng lãnh thổ, nâng tổng số lên 72 Hiệp định. 7 Trải qua 70 năm xây dựng và phát triển, hành trình của ngành Thuế gắn liền với những sự kiện lịch sử của đất nước, thế hệ đi trước truyền kinh nghiệm, truyền lửa cho thế hệ sau, để thành công nối tiếp thành công trên nhiều mặt trong công tác thuế. Đó là kết tinh của quá trình kiên trì phấn đấu, miệt mài lao động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, khắc phục và vượt qua mọi khó khăn; tâm huyết, tận tâm, tận lực phục vụ công tác quản lý thu của mỗi cán bộ ngành Thuế. Đó cũng là kết quả chung của toàn Đảng, toàn dân và cộng đồng doanh nghiệp, người nộp thuế trên khắp mọi miền Tổ quốc.
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Khái niệm thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế thu trên thu nhập của các cơ sở kinh doanh để tập trung một phần thu nhập của doanh nghiệp vào ngân sách nhà nước. Ngoài ra, nhà nước cũng có thể sử dụng loại thuế này để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc động viên công bằng giữa các thành phần kinh tế, khuyến khích ưu đãi đầu tư nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển. Theo Chuẩn mực kế toán số 17 về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế TNDN được định nghĩa: “Thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm toàn bộ số thuế thu nhập tính trên thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp, kể cả các khoản thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ tại nước ngoài mà Việt Nam chưa ký Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần.
Thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm cả các loại thuế liên quan khác được khấu trừ tại nguồn đối với các tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam không có cơ sở thường trú tại Việt Nam được thanh toán bởi công ty liên doanh, liên kết hay công ty con tính trên khoản phân phối cổ tức, lợi nhuận (nếu có); hoặc thanh toán dịch vụ cung cấp cho đối tác cung cấp dịch vụ nước ngoài theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành.” Theo quy đinh tại Thông tư 78/2014/TT-BTC ban hành ngày 18 tháng 06 năm 2014 hướng dẫn thi hành Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ban hành ngày 26 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định và hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp, người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là: “… a) Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật 8 Chứng khoán, Luật Dầu khí, Luật Thương mại và các văn bản quy phạm pháp luật khác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợp danh; Doanh nghiệp tư nhân; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư; Các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, Xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung. b) Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế trong tất cả các lĩnh vực. c) Tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã. d) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú tại Việt Nam.
Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam, bao gồm: - Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam; - Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp; - Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hoặc tổ chức, cá nhân khác; - Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài; - Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam. Trường hợp Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết có quy định khác về cơ sở thường trú thì thực hiện theo quy định của Hiệp định đó. e) Tổ chức khác ngoài các tổ chức nêu tại các điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều này có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa hoặc dịch vụ, có thu nhập chịu thuế.” Ở các nước, tên gọi của luật thuế này có thể khác nhau như luật thuế thu nhập công ty, luật thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế lợi tức vv…Nhưng bản chất là tương đối giống nhau. Tiến trình áp dụng thuế TNDN ở Việt Nam Trước năm 1990, Đảng và Nhà nước ta tập trung lãnh đạo chỉ đạo, xóa bỏ cơ chế quản lý hành chính, tập trung quan lieu, bao cấp, từng bước hình thành và hoàn thiện cơ chế quản lý mới, xây dựng nên kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển nền kinh tế với đa dạng thành phần kinh tế.
Về chế độ thu ngân sách lúc bấy giờ mang tính chất bao cấp đối với thành phần kinh tế quốc doanh, cải tạo đối với các thành phần kinh tế khác.