ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế thế giới, mỗi năm có 9 triệu người chết do tăng huyết áp, chiếm 12,8% tử vong toàn cầu.561 người chết vì tăng huyết áp. Vì thế người ta quan niệm tăng huyết áp là “kẻ giết người thầm lặng”(1). Các biến chứng thường gặp của tăng huyết áp hoặc không kiểm soát huyết áp là tai biến mạch máu não, suy tim, suy thận, nhồi máu cơ tim(2). Nghiên cứu của Bùi Văn Tân (2010) cho thấy suy chức năng tâm trương chiếm 83,9%, phì đại thất trái 48,2%, tổn thương mắt 48,8%, tổn thương thận 23,1% ở bệnh nhân tăng huyết áp(3).
Tăng huyết áp gây tử vong và tàn phế, để lại hậu quả nặng nề về tinh thần và kinh tế cho gia đình và xã hội(4). Ở Việt Nam, tỷ lệ tăng huyết áp ở người lớn ngày càng cao, năm 1960 mới chỉ khoảng 1%, năm 2009 đã là 24,7%, năm 2011 là 25,1%, năm 2015 theo báo cáo của Hội tim mạch có 47,3% người Việt Nam bị tăng huyết áp(5). Tăng huyết áp đang trở thành vấn đề thời sự vì sự gia tăng nhanh chóng trong cộng đồng. Việt Nam có khoảng 12 triệu người mắc bệnh tăng huyết áp, nhưng chỉ 43% trong số đó được phát hiện bệnh và chỉ 14% được quản lý điều trị, còn 56,9% không được phát hiện [22].
Chương trình phòng chống tăng huyết áp trong cộng đồng đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2012 mục tiêu là phát hiện sớm tăng huyết áp, xây dựng mô hình quản lý tăng huyết áp tại tuyến cơ sở, 50% số người tăng huyết áp được phát hiện sẽ được điều trị đúng phác đồ của Bộ Y tế, giảm tỷ lệ tai biến và tử vong do tăng huyết áp. Đã có nhiều hoạt động quản lý điều trị tăng huyết áp được triển khai trong giai đoạn 2012-2015 như: Tổ chức sàng lọc trong cộng đồng đối với các đối tượng nguy cơ cao, truyền thông giáo dục sức khỏe nâng cao nhận thức về tăng huyết áp và các yếu tố nguy cơ, tổ chức đào tạo, tập huấn, điều trị ngoại trú tại Trạm Y tế xã đối với các trường hợp huyết áp độ I, II. Thực hiện Nghị quyết 20/NQ-TW của Ban chấp hành Trung ương khóa XII, Tỉnh Lào Cai đặt mục tiêu đến năm 2025 đạt 95% trạm y tế xã sẽ quản lý các bệnh không lây nhiễm phổ biến như tăng huyết áp, đái tháo đường, con số này sẽ tăng lên 100% vào năm 2030(6). Kế hoạch thực hiện chiến lược quốc gia phòng chống bệnh ung thư, tim mạch, đái tháo đường, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản và các bệnh 3 không lây nhiễm khác giai đoạn 2015-2025 trên địa bàn tỉnh Lào Cai có mục tiêu “40% người bị tăng huyết áp được phát hiện và 50% số người phát hiện bệnh được quản lý và điều trị theo phác đồ”(7).
Huyện Bát Xát nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Lào Cai, có 20 xã và 01 thị trấn với dân số là 79.110 người từ 40 tuổi trở lên. Từ cuối 2018, Tổ chức y tế thế giới đã hỗ trợ triển khai Chương trình quản lý điều trị tăng huyết áp tại 11 xã (trong đó có 3 xã thuộc xã điểm của Bộ Y tế triển khai Trạm Y tế xã điểm theo nguyên lý Y học gia đình). Tính đến 30/6/2020, trên địa bàn huyện đã sàng lọc được 19.110 người từ 40 tuổi trở lên phát hiện 1. Nhằm đánh giá công tác quản lý điều trị tăng huyết áp tại các xã trên địa bàn huyện Bát Xát.
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Thực trạng quản lý điều trị tăng huyết áp tại các trạm y tế huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai năm 2020” 4 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mô tả thực trạng quản lý điều trị tăng huyết áp tại các Trạm Y tế xã trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai năm 2020. Phân tích một số yếu tố thuận lợi, khó khăn trong quản lý điều trị bệnh nhân tăng huyết áp tại Trạm Y tế trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai năm 2020. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Định nghĩa, phân loại, các yếu tố nguy cơ và biến chứng tăng huyết áp 1. Định nghĩa tăng huyết áp Tăng huyết áp là tình trạng HA thường xuyên tăng trên mức bình thường. Theo WHO và Bộ Y tế, tăng huyết áp khi HA tâm thu ≥ 140mmHg và/hoặc HA tâm trương ≥ 90mmHg(8). Tăng huyết áp được chia làm hai loại: THA nguyên phát chiếm khoảng 90% các trường hợp THA.
Đây là những trường hợp không có nguyên nhân rõ rệt, một số nghiên cứu thấy rõ có yếu tố làm THA được gọi là YTNC(8). 112 h n o i v ph n tăng huyết áp 1. Phân loại tăng huyết áp Tăng huyết áp nguyên phát (vô căn) chiếm 90-95%, là dạng không tìm được nguyên nhân, được xem là bệnh đa yếu tố, trong đó có sự tương tác giữa yếu tố di truyền và môi trường như ăn mặn, béo phì, uống rượu, stress, tuổi, giới, chủng tộc, thuốc lá, không dung nạp glucose(9). Tăng huyết áp thứ phát, tỷ lệ khoảng 5-10%, cần được xác định nguyên nhân vì có thể điều trị khỏi cho người bệnh.
Nguyên nhân tăng huyết áp có thể xếp thành các nhóm chính gồm tăng huyết áp do thuốc, do hẹp van động mạch chủ, do thận, do nội tiết. Các nguyên nhân khác như thai kỳ(9). Phân độ tăng huyết áp Liên Uỷ ban quốc gia Hoa Kỳ (JNC) ph n tăng huyết áp như sau: Bảng 1. Phân độ tăng huyết áp theo JNC VII năm 2003 (10) Huyết áp Phân độ tăng huyết áp Tâm thu (mmHg) Tâm trương (mmHg) Bình thường < 120 < 80 Tiền THA 120 - 139 80 - 89 THA độ I 140 – 159 90 - 99 6 THA độ II ≥ 160 ≥ 100 Ở nước ta, theo Bộ Y tế(11), về hướng dẫn chẩn đoán và điều trị tăng huyết áp, việc phân độ này giống với những hướng dẫn phân độ tăng huyết áp năm 2003 và 2007 ESH/ESC.
Việc phân độ huyết áp bao gồm huyết áp tối ưu, huyết áp bình thường, tiền tăng huyết áp, tăng huyết áp độ 1, tăng huyết áp độ 2, tăng huyết áp độ 3. Nếu huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trương không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại(11). Phân độ tăng huyết áp (8) Huyết áp Phân độ tăng huyết áp Tâm thu (mmHg) Tâm trương (mmHg) HA tối ưu < 120 và < 80 HA bình thường 120 - 129 và/hoặc 80 - 84 Tiền THA 130 - 139 và/hoặc 85 - 89 THA độ I 140 – 159 và/hoặc 90 - 99 THA độ II 160 - 179 và/hoặc 100 – 109 THA độ III ≥ 180 và/hoặc ≥ 110 THA tâm thu đơn độc ≥ 140 và < 90 1.3 Các yếu tố nguy cơ tăng huyết áp 1. Một số hành vi liên quan đến tăng huyết áp Một số thói quen ăn uống có liên quan nhiều đến tăng huyết áp là ăn mặn, lạm dụng rượu bia, ăn nhiều mỡ động vật.
Theo nghiên cứu của Lê Thị Vẻ (2010), người THA lớn tuổi tại Bệnh viện Trung ương quân đội 108 cho thấy các yếu tố nguy có thường gặp trong nhóm người THA là rối loạn lipit máu (61,2%), thừa cân (57,5%), hút thuốc (36,5%), uống rượu (35%), tăng đường huyết (27,5%) và tiền sử gia đình có THA (25%). Trong khi đó, các yếu tố nguy cơ tương ứng ở nhóm chứng là 0%, 42,7%, 13,3%, 16,7%, 0% và 6,7%. Như vậy, loại bỏ yếu tố nguy cơ là góp phần điều trị và phòng chống THA tốt nhất(12). Vũ Phong Túc, Lê Chính Chuyên (2012), nghiên 7 cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Ninh Bình cho thấy trong số bệnh nhân THA có 30,6% tiền béo phì, 23,8% có rối loạn lipit máu(13).
Chế độ ăn nhiều muối có liên quan đến tăng huyết áp. Hiện nay, WHO khuyến cáo chế độ ăn muối chỉ có 6g/ngày là giới hạn để phòng chống THA(14). Một số nghiên cứu cũng cho thấy nhiều trường hợp còn chưa biết chế độ ăn nhạt là như thế nào. Chế độ ăn giảm muối vừa phải (1-2,5g muối/mỗi ngày) được áp dụng cho các trường hợp THA hoặc đang dùng thuốc lợi tiểu.
Một số người biết cần phải ăn nhạt nhưng lại khó từ bỏ được thói quen ăn mặn(15). Chất béo là một yếu tố có liên quan đến tăng huyết áp. Nhiều nghiên cứu đã khuyến cáo nên ăn uống điều độ, phù hợp vì chế độ ăn quá dư thừa sẽ gây béo phì và phát triển bệnh lý vữa xơ động mạch, đái tháo đường. Chế độ ăn để giảm cân ở người béo phì trong đó trước tiên và chủ yếu là: giảm các chất gluxit (bánh các loại, đồ ngọt, chất bột) và bù đắp bằng rau quả.
Ăn giảm mỡ động vật và thay bằng dầu thực vật và uống nhiều nước kèm theo tăng cường vận động thể lực. Nhưng trong thực tế, phần lớn các trường hợp béo phì chưa biết chế độ ăn để giảm cân. Vì vậy, để giảm cân ở người béo phì, cũng là một việc nhiều khi khó thực hiện(16). Vai trò của chất xơ trong tiêu hóa: Vai trò sinh học của chất xơ là giúp đẩy nhanh chất thải ra khỏi ống tiêu hoá, phòng táo bón.
Về vai trò đối với THA, đã có nhiều công trình nêu lên tác dụng của chất xơ trong điều hoà HA cả người lớn và trẻ em. Tuy nhiên, tác dụng độc lập của chất xơ còn đang là vấn đề cần nghiên cứu. Trong chế độ ăn của người bệnh THA cần thiết phải tăng nhiều chất xơ. Vấn đề lạm dụng rượu bia: WHO đã khuyến cáo: Rượu làm THA và đó là YTNC của tai biến mạch não, thường thấy phối hợp với bệnh tim, loạn nhịp tim, tăng xuất huyết não.
Nếu uống rượu điều độ chỉ ở mức 10g ethanol x 1-3 lần/ngày thì có thể chấp nhận được, ở mức trên 3 lần/ngày (>30g ethanol) có bằng chứng hại cả về sinh học lẫn xã hội(17). Trong thực tế, việc loại bỏ thói quen uống nhiều rượu cũng là một vấn đề khó. Bởi vì, những người nghiện rượu kể cả các trường hợp đã bị THA thường hay ngụy biện cho bản thân. Kết quả điều tra về thực trạng lạm dụng rượu ở Hà Nội của Lê Anh Tuấn (2010) cho thấy lạm dụng rượu là 11,27%, nghiện rượu là 3,23%.
Theo Hoàng Thị Phượng, Vũ Minh Hạnh, Đàm Viết Cương, Nguyễn Trần Hiển 8 (2009), tỷ lệ sử dụng rượu là 33,5%, lạm dụng rượu 18,7%(18). Tuổi bắt đầu uống rượu, lạm dụng rượu và nghiện rượu ngày càng trẻ. Lý do, hoàn cảnh uống rượu 100% là do tập tục (cỗ, cưới hỏi, ma chay, hội hè)(19). Hút thuốc lá thuốc lào cũng là yếu tố nguy cơ gây tăng huyết áp.
Khói thuốc lá chứa hơn 4000 loại hoá chất, trong đó có nicotin, được hấp thụ qua da, niêm mạc miệng, mũi hoặc hít vào phổi.