Tổng quan nghiên cứu

Ô nhiễm rác thải nhựa đang là thách thức sinh thái nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu. Theo các báo cáo thống kê, sản lượng nhựa thế giới đã tăng vọt từ 1,7 triệu tấn vào năm 1950 lên hơn 350 triệu tấn vào năm 2015 và được dự báo có thể chạm ngưỡng 33 tỷ tấn vào năm 2050. Mỗi năm, có khoảng 4 đến 12 triệu tấn rác thải nhựa đổ ra các đại dương. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, trung bình mỗi năm phát sinh khoảng 250.000 tấn chất thải nhựa, nhưng chỉ có 19,2% trong số đó được thu gom và xử lý tại các bãi chôn lấp hợp vệ sinh. Phần còn lại bị thải bỏ trực tiếp ra môi trường tự nhiên, vỡ vụn thành các vi hạt nhựa có kích thước dưới 5 mm và phát tán rộng khắp.

Trong khi ô nhiễm vi nhựa trong môi trường nước biển và sông ngòi đã được quan tâm nghiên cứu, sự hiện diện của chúng trong khí quyển tại các quốc gia đang phát triển hầu như vẫn là một khoảng trống khoa học. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý Tài nguyên và Môi trường của tác giả Trương Trần Nguyễn Sang, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Kiều Lê Thủy Chung và Tiến sĩ Emilie Strady tại Trường Đại học Bách Khoa – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, được thực hiện nhằm mục tiêu định lượng và đánh giá đặc tính ô nhiễm vi nhựa trong bụi không khí khô và ướt.

Chương trình quan trắc được triển khai liên tục trong suốt 12 tháng (từ ngày 15/06/2018 đến ngày 25/05/2019) tại 3 khu vực đại diện gồm: Quận 10 (đô thị), huyện Củ Chi (ngoại ô) và bãi rác Phước Hiệp (khu xử lý chất thải tập trung). Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm chuẩn hóa đầu tiên tại Việt Nam, đóng góp cơ sở khoa học trực tiếp phục vụ Mục tiêu Phát triển Bền vững số 14.1 của Liên Hợp Quốc về ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường biển từ các hoạt động trên đất liền.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết vòng tuần hoàn động học vi nhựa đa môi trường và mô hình phát tán sol khí qua cơ chế lắng đọng khô và ướt trong khí quyển. Trong đó, hệ thống lý thuyết tập trung làm rõ 4 khái niệm cốt lõi:

  • Vi hạt nhựa (Microplastics - MiPs): Các phần tử polymer nhân tạo có kích thước danh định nhỏ hơn 5 mm, sở hữu độ bền hóa học cao và khả năng tồn tại hàng trăm năm ngoài môi trường.
  • Vi nhựa sơ cấp và thứ cấp: Vi nhựa sơ cấp được sản xuất nhân tạo ở kích thước vi mô (hạt scrub, phụ gia mỹ phẩm), trong khi vi nhựa thứ cấp hình thành từ quá trình phong hóa, quang hóa dưới bức xạ cực tím và mài mòn cơ học từ rác thải vĩ mô.
  • Bụi lắng đọng khô (Dry fallout): Các hạt vật chất và sợi vi nhựa lắng đọng từ khí quyển xuống bề mặt đất trong điều kiện thời tiết không mưa dưới tác động của trọng lực và chuyển động không khí.
  • Bụi lắng đọng ướt (Wet fallout): Quá trình các hạt vi nhựa bị nước mưa cuốn trôi và lắng đọng cùng lượng mưa rơi xuống mặt đất.

Lý thuyết vận chuyển khí quyển chỉ ra rằng khoảng 80% rác thải nhựa đại dương bắt nguồn từ lục địa, trong đó con đường gió cuốn và lắng đọng khí quyển đóng vai trò là nguồn bổ sung liên tục cho các thủy vực nội địa như sông Sài Gòn và hệ thống kênh rạch lân cận.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện thu thập tổng cộng 72 mẫu bụi khí quyển khô và ướt (24 mẫu trên mỗi vị trí) định kỳ 2 lần mỗi tháng trong chu kỳ 365 ngày. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo không gian được áp dụng để bao quát 3 môi trường đặc trưng:

  • Vị trí S1: Khu vực đô thị nội thành tại Quận 10, thiết bị đặt trên tầng thượng tòa nhà CARE ở độ cao 10 m, chịu ảnh hưởng từ giao thông đông đúc và công trình xây dựng.
  • Vị trí S2: Khu dân cư nông thôn tại huyện Củ Chi, thiết bị đặt ở độ cao 2 m cách mặt đất.
  • Vị trí S3: Bãi rác Phước Hiệp, thiết bị đặt ở độ cao 0 m sát mặt đất để đánh giá phát thải từ bãi chôn lấp.

Thiết bị thu mẫu chuyên dụng gồm phễu thủy tinh đường kính 250 mm (diện tích thu nhận 0,049 m²) kết nối trực tiếp với bình chứa thủy tinh dung tích 10 lít nhằm tránh tối đa việc tái nhiễm vi nhựa từ dụng cụ thí nghiệm. Quy trình xử lý mẫu trong phòng thí nghiệm được chuẩn hóa qua 6 bước nghiêm ngặt:

  1. Rây mẫu qua lưới rây 1 mm để loại bỏ rác thô và tách các sợi nhân tạo kích thước lớn.
  2. Tách tỷ trọng bằng dung dịch muối ăn bão hòa NaCl có tỷ trọng 1,18 g/cm³ để tuyển nổi các polymer nhẹ.
  3. Phân hủy sinh học bằng 1 g chất hoạt động bề mặt SDS ở 50°C trong 24 giờ.
  4. Xử lý enzym với 1 mL Biozym SE (protease, amylase) và 1 mL Biozym F (lipase) ở 40°C trong 48 giờ để triệt tiêu hoàn toàn màng sinh học và chất hữu cơ bám dính.
  5. Oxy hóa nâng cao bằng 15 mL dung dịch H2O2 nồng độ 30% ở 40°C trong 48 giờ nhằm tinh sạch bề mặt vi nhựa mà không làm phá hủy cấu trúc polymer.
  6. Lọc mẫu qua màng sợi thủy tinh Whatman GF/A (đường kính lỗ lọc 1,6 µm) và định lượng dưới kính hiển vi lập thể Leica S6D tích hợp camera MC170 cùng phần mềm LAS, kết hợp phân tích quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR).

Mật độ lắng đọng vi nhựa hàng ngày được xác định theo công thức chuẩn: C = Q / (A × D), trong đó Q là số hạt đếm được, A là diện tích phễu (0,049 m²) và D là số ngày thu mẫu (3 đến 4 ngày).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm 72 mẫu thu thập trong suốt 1 năm đã mang lại những kết quả định lượng quan trọng:

  • Tỷ lệ xuất hiện tuyệt đối: Vi hạt nhựa được tìm thấy trong 100% các mẫu thu thập ở cả ba khu vực. Tổng cộng có 4.945 phần tử vi nhựa được ghi nhận, trong đó dạng sợi (fibers) chiếm ưu thế áp đảo với 4.545 sợi (tương đương 92%), còn dạng mảnh (fragments) chỉ chiếm 400 hạt (tương đương 8%).
  • Biến thiên mật độ theo không gian: Mật độ lắng đọng trung bình trong không khí cao nhất tại bãi rác Phước Hiệp (S3) với 551 ± 139 hạt/m²/ngày, tiếp theo là khu vực đô thị Quận 10 (S1) với 402 ± 209 hạt/m²/ngày, và thấp nhất tại khu vực ngoại ô Củ Chi (S2) với 142 ± 64 hạt/m²/ngày. Mật độ tại bãi rác cao gấp 3,88 lần so với khu vực nông thôn.
  • Đặc trưng kích thước: Hơn 50% số sợi vi nhựa ghi nhận được có chiều dài dưới 1.100 µm. Trong khi đó, các vi nhựa dạng mảnh có diện tích bề mặt biến thiên rất lớn, dao động từ 10.000 µm² đến hơn 80.000 µm².
  • Đặc trưng màu sắc: Màu xanh lam (blue) chiếm tỷ lệ vượt trội lên đến hơn 95% tổng lượng vi nhựa quan sát được ở cả ba trạm. Các màu sắc còn lại như hồng, tím, trắng, trong suốt và xanh lục chỉ chiếm dưới 5% và phân bố rải rác.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực nghiệm được minh họa chi tiết thông qua hệ thống bảng số liệu thống kê mật độ hàng tháng, kết hợp với các biểu đồ phân bố tần suất tích lũy (cumulative curve) về chiều dài sợi và diện tích bề mặt mảnh. Biểu đồ đối sánh tương quan giữa lượng mưa thực tế và mật độ lắng đọng vi nhựa cho thấy các trận mưa lớn kéo theo lượng vi nhựa lắng đọng ướt gia tăng cục bộ, chứng minh nước mưa đóng vai trò như một tác nhân rửa trôi sol khí vi nhựa trong tầng đối lưu.

Sự vượt trội của vi nhựa dạng sợi (trên 92%) phản ánh nguồn phát thải chủ yếu xuất phát từ quá trình giặt giũ, bào mòn quần áo dệt may tổng hợp, thảm trải sàn và bụi vải trong sinh hoạt đô thị. Thói quen phơi quần áo ngoài ban công dưới tác động của bức xạ mặt trời đẩy nhanh quá trình bẻ gãy liên kết polymer, phát tán sợi mịn vào không khí.

Mật độ vi nhựa tại bãi rác Phước Hiệp đạt đỉnh (551 hạt/m²/ngày) do rác thải nhựa tại các ô chôn lấp bị phơi nhiễm thời tiết, vỡ vụn dưới gió mạnh và phát tán ngược vào tầng khí quyển sát mặt đất. Khi so sánh với các đô thị trên thế giới, mức độ ô nhiễm vi nhựa trong không khí tại Thành phố Hồ Chí Minh (142 - 551 hạt/m²/ngày) tương đương với số liệu ghi nhận tại Paris (2 - 355 sợi/m²/ngày), vùng núi Pyrenees (365 hạt/m²/ngày) và Hamburg (275 hạt/m²/ngày), phản ánh mức độ tích tụ sol khí polymer đáng báo động tại các đô thị đông dân cư.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả định lượng về tải lượng vi nhựa khí quyển, các giải pháp quản lý môi trường đồng bộ cần được triển khai:

  • Thiết lập mạng lưới quan trắc tự động: Xây dựng hệ thống trạm quan trắc định kỳ bụi lắng đọng vi nhựa tại 24 quận huyện của Thành phố Hồ Chí Minh, đặt mục tiêu bao phủ 100% các điểm nóng ô nhiễm vào năm 2026 dưới sự chủ trì của Sở Tài nguyên và Môi trường.
  • Kiểm soát nguồn phát tán tại bãi chôn lấp: Áp dụng công nghệ phủ màng sinh học kết hợp lắp đặt giàn phun sương dập bụi chuyên dụng tại Bãi rác Phước Hiệp và Đa Phước, hướng đến mục tiêu giảm thiểu ít nhất 40% lượng bụi vi nhựa phát tán theo gió vào năm 2027 do Công ty TNHH Một thành viên Môi trường Đô thị thực hiện.
  • Ban hành quy chuẩn kỹ thuật địa phương: Xây dựng khung quy chuẩn kỹ thuật về ngưỡng phát thải vi hạt nhựa trong khí thải công nghiệp và nước thải dệt may, kiểm soát 85% các cơ sở sản xuất sợi tổng hợp vào năm 2028 dưới sự điều phối của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
  • Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và giảm thiểu nhựa dùng một lần: Triển khai các chương trình phân loại rác tại nguồn, áp dụng thuế bảo vệ môi trường đối với bao bì khó phân hủy, phấn đấu cắt giảm 30% lượng phát sinh chất thải nhựa sinh hoạt đô thị trong giai đoạn 2025-2030 do Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh chủ trì.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý môi trường nhà nước: Sở Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Bảo vệ Môi trường sử dụng số liệu làm căn cứ hoạch định chính sách kiểm soát chất lượng không khí xung quanh và xây dựng kế hoạch hành động quản lý rác thải nhựa đại dương.
  • Nhà khoa học và nghiên cứu sinh: Các chuyên gia nghiên cứu về độc chất học môi trường, ô nhiễm không khí và mô hình hóa phát tán khí quyển có thể kế thừa quy trình tiền xử lý hóa enzym và phương pháp thu mẫu chuẩn hóa.
  • Doanh nghiệp ngành dệt may và vật liệu: Các kỹ sư công nghệ sử dụng dữ liệu để cải tiến quy trình sản xuất, nghiên cứu các loại vải dệt bền cơ học, phát triển sợi sinh học phân hủy hoàn toàn và thiết kế hệ thống màng lọc vi nhựa cho máy giặt gia dụng.
  • Giảng viên và sinh viên khối ngành môi trường: Là tài liệu tham khảo giá trị cho các học phần Quản lý Chất thải rắn, Quan trắc Môi trường không khí và Đánh giá Rủi ro Môi trường tại các trường đại học.

Câu hỏi thường gặp

1. Vi nhựa trong không khí tại Thành phố Hồ Chí Minh bắt nguồn từ những nguồn thải chính nào? Nguồn phát thải chính gồm sợi tổng hợp từ quần áo dệt may trong quá trình giặt phơi, bụi mài mòn lốp xe cao su tổng hợp, bụi sơn công trình và quá trình phong hóa rác thải nhựa tại các bãi chôn lấp hở như Phước Hiệp dưới tác động của nhiệt độ và tia cực tím.

2. Mật độ lắng đọng vi nhựa giữa mùa mưa và mùa khô có sự khác biệt ra sao? Mật độ vi nhựa có xu hướng tăng cao trong các đợt mưa lớn do nước mưa cuốn trôi các sol khí lơ lửng trong tầng đối lưu (lắng đọng ướt). Tuy nhiên, vào mùa khô, lượng vi nhựa dạng sợi phát tán tự do nhờ chuyển động gió cũng duy trì ở mức cao từ 142 đến 402 hạt/m²/ngày.

3. Vì sao vi nhựa dạng sợi màu xanh lam lại chiếm tỷ lệ áp đảo trên 95%? Màu xanh lam là sắc tố phổ biến hàng đầu trong ngành công nghiệp dệt may (quần jeans, áo khoác, đồng phục) và bạt che công trình xây dựng tại Việt Nam. Độ bền màu cao của các phẩm nhuộm phthalocyanine xanh lam cũng giúp hạt nhựa giữ nguyên màu sắc đặc trưng khi quan sát dưới kính hiển vi.

4. Quy trình xử lý mẫu bằng enzym sinh học trong nghiên cứu có ưu thế gì? Quy trình sử dụng Biozym SE và Biozym F kết hợp H2O2 30% giúp phân hủy triệt để tạp chất hữu cơ và màng sinh học bám quanh hạt nhựa mà không làm ăn mòn hay biến tính nhiệt bề mặt polymer, khắc phục hoàn toàn nhược điểm làm giòn vỡ mẫu của phương pháp phân hủy axit mạnh truyền thống.

5. Hít thở phải vi hạt nhựa trong không khí gây ra những rủi ro gì cho sức khỏe? Hơn 50% sợi vi nhựa có kích thước dưới 1.100 µm có khả năng xâm nhập sâu vào đường dẫn khí, gây kích ứng mô phổi, viêm phế quản mạn tính và đóng vai trò là chất mang hấp phụ các hợp chất hữu cơ độc hại (như PCBs, PAHs) cùng kim loại nặng đi thẳng vào phế nang người.

Kết luận

  • Luận văn đã xác định 100% mẫu bụi khí quyển khô và ướt thu thập tại Thành phố Hồ Chí Minh đều bị ô nhiễm vi hạt nhựa, với mật độ dao động từ 142 đến 551 hạt/m²/ngày.
  • Dạng sợi nhân tạo chiếm ưu thế vượt trội (chiếm 92% đến 95% tổng lượng vi nhựa), trong đó hơn 50% số sợi có chiều dài dưới 1.100 µm và màu xanh lam chiếm trên 95%.
  • Không gian bãi rác Phước Hiệp ghi nhận mức độ ô nhiễm cao nhất (551 ± 139 hạt/m²/ngày), cao gấp 3,88 lần khu vực ngoại ô Củ Chi, chứng minh bãi chôn lấp rác là nguồn phát thải vi nhựa thứ cấp nghiêm trọng.
  • Nghiên cứu đã tối ưu hóa thành công quy trình tuyển nổi tỷ trọng kết hợp xử lý enzym sinh học, giúp phân tách chính xác vi nhựa trong bụi lắng đọng khí quyển với chi phí tối ưu.
  • Bộ số liệu quan trắc 365 ngày liên tục là đóng góp khoa học tiên phong tại Việt Nam, đặt nền móng vững chắc cho các nghiên cứu dịch tễ học và chính sách kiểm soát ô nhiễm sol khí polymer.

Trong giai đoạn 2025-2027, các cơ quan chức năng và nhóm nghiên cứu cần tiếp tục mở rộng quy mô quan trắc vi nhựa kích thước nano dưới 100 µm và đánh giá độc tính tế bào hô hấp. Hãy chủ động liên hệ các đơn vị quản lý chuyên ngành để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu và đồng hành triển khai các giải pháp bảo vệ chất lượng không khí đô thị.