Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung hiện trạng chăn nuôi 1. Hiện trạng chăn nuôi chung cả nước Phát triển nông nghiệp, nông thôn đã và đang là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, ngành chăn nuôi được xác định là ngành kinh tế trọng điểm, còn không gian và dư địa lớn trong nông nghiệp cần tập trung đầu tư phát triển. Nhiều chính sách của nhà nước trong lĩnh vực chăn nuôi đã được Chính phủ và các địa phương ban hành đang phát huy hiệu quả thúc đẩy sản xuất chăn nuôi.
Sản xuất chăn nuôi trong nước đã tạo ra khối lượng lớn sản phẩm, đáp ứng cơ bản nhu cầu thực phẩm thiết yếu cho tiêu dùng trong nước và một phần cho xuất khẩu; bước đầu đã hình thành nền tảng cho phát triển công nghiệp ngành chăn nuôi, như công nghiệp chế biến TACN, chế biến sữa, công nghiệp chuồng trại và chọn tạo giống; tốc độ tăng trưởng của ngành chăn nuôi thời gian qua luôn ở mức cao, trung bình từ 5 - 6%/năm, góp phần duy trì mức tăng trưởng chung của ngành nông nghiệp. Tính từ năm 2005 đến nay, sản lượng thịt các loại tăng trên 3 lần (từ 1,6 triệu tấn lên 5,3 triệu tấn), trứng tăng 3,9 lần (từ 3,0 tỷ quả lên 11,8 tỷ quả), sữa tươi tăng 18,6 lần (từ 51,5 ngàn tấn lên 960 ngàn tấn), thức ăn chăn nuôi công nghiệp tăng gần 4,8 lần (từ 4,3 triệu tấn lên 21,0 triệu tấn) trở thành nước đứng vị trí số 01 trong các nước ASEAN về công nghiệp chế biến TACN… (Viện chăn nuôi, 2016). Theo Bộ NN&PTNT, năm 2019 là một năm gặp nhiều biến cố đối với ngành chăn nuôi nói chung và đặc biệt là chăn nuôi lợn, do chịu thiệt hại nặng nề từ dịch tả lợn châu Phi, sản lượng thịt lợn giảm sâu dẫn đến tổng sản lượng thịt hơi các loại giảm gần 4% so với năm 2018. Tỷ trọng sản lượng các loại 4 thịt hơi có sự thay đổi đáng kể so với năm 2018 khi có dịch, năm 2019 tỷ trọng sản lượng thịt lợn và thịt gia cầm chiếm tương ứng là 65,6% và 25,5% trong tổng sản lượng thịt hơi các loại.
Đàn gia cầm phát triển tốt, sản lượng đạt 1,3 triệu tấn, tăng 15%; sản lượng thịt bò ước đạt 0,35 triệu tấn, tăng 4,4%; sản lượng sữa tươi đạt 1,03 triệu tấn, tăng 10% (trong đó thể hiện rõ xu hướng chuyển đổi cơ cấu về chất; Tỷ lệ bò lai tăng lên 64,7%, đàn bò sữa tăng lên 367 ngàn con); sản lượng trứng ước đạt 13,0 tỷ quả, tăng 12%; với năm 2018 (http://channuoivietnam. Hiện trạng chăn nuôi tại tỉnh Hòa Bình Hòa Bình là tỉnh miền núi có lợi thế về vị trí địa lý thuận lợi là cửa ngõ của thủ đô và một số tỉnh đồng bằng là thị trường lớn về các sản phẩm nông nghiệp nói chung và chăn nuôi nói riêng. Đồng thời với nguồn đất đai rộng, nhiều đồi rừng, mật độ dân cư còn thấp thuận lợi phát triển chăn nuôi. Với thuận lợi đó, trong những năm qua ngành chăn nuôi của tỉnh đã có bước phát triển nhất định, sản lượng thực phẩm từ chăn nuôi gia tăng đã đem lại những bước tiến mới trong nông nghiệp, mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, từ trồng trọt sang chăn nuôi, cải thiện đáng kể đời sống kinh tế của nông dân.
Chăn nuôi là nghề truyền thống và là nguồn thu nhập quan trọng của nông dân tỉnh Hòa Bình. Trong thời gian qua cùng với các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và sự nỗ lực của ngành chăn nuôi của tỉnh như áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi, cải tiến con giống vật nuôi, tăng số lượng chăn nuôi theo quy mô trang trại và những mô hình chăn nuôi tiên tiến như mô hình nuôi lợn nhiều nạc, gia cầm siêu thịt, cải tạo đàn bò sữa, bò thịt, trồng cỏ cao sản… đã được nông dân mạnh dạn thực hiện. Bên cạnh đó, các trang trại chăn nuôi được đầu tư đồng bộ từ con giống, chuồng trại, thức ăn, thú y và xử lý chất thải chăn nuôi với trang thiết bị hiện đại, quy mô vừa và lớn. Đặc biệt, các trang trại nuôi gia công đã thiết kế chuồng nuôi kín, chủ động kiểm soát điều kiện môi trường, giảm thiểu dịch bệnh và cho năng suất cao.
5 Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi gia tăng qua các năm. Cơ cấu sản xuất ngành nông nghiệp đang có sự chuyển dịch đúng hướng là nâng cao tỷ trọng chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, giảm tỷ trọng trồng trọt trong cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi trong phát triển nông nghiệp Năm Nội dung Chỉ tiêu ĐVT 2014 2015 2016 2017 Trồng Giá trị Tr.256 trọt Tỷ trọng % 76,11 74,21 73,66 70,8 Chăn Giá trị Tr.888 nuôi Tỷ trọng % 23,17 25,06 25,67 28,4 Dịch vụ Giá trị Tr.374 và các hoạt động Tỷ trọng % 0,72 0.73 0,67 0,7 khác (Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hòa Bình năm 2017; Báo cáo Sở NN&PTNT tỉnh Hòa Bình) Theo số liệu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Hòa Bình, Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi theo giá so sánh năm 2019 đạt 3.397 tỷ đồng, vượt 0,13% so với cùng kỳ, đạt 96% so với kế hoạch. Tổng đàn gia súc, gia cầm năm 2019: Đàn trâu đạt 119 ngàn con tăng 1,62% so với cùng kỳ, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 3.600 tấn tăng 1,47% so với cùng kỳ; Bò 86,2 nghìn con tăng 0,91%, sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 3.200 tấn tăng 11,69% so với cùng kỳ; Lợn 439,5 ngàn con tăng 4,28%, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 63.000 tấn tăng 4,28% so với cùng kỳ; Gia cầm đạt 7.688,32 nghìn con tăng 3,77%, sản lượng thịt gà hơi xuất chuồng đạt 23.000 tấn tăng 2%, trứng gia cầm tăng 2,06% so với cùng kỳ; Dê tăng 2,43% so với cùng kỳ (Sở NN&PTNT tỉnh Hòa Bình, 2020).
Tổng quan về chất thải chăn nuôi lợn và hiện trạng quản lý chất thải chăn nuôi lợn ở Việt Nam 1. Đặc điểm chất thải chăn nuôi lợn Chất thải chăn nuôi chia ra thành 3 nhóm: - Chất thải rắn: phân, chất độn, lông, chất hữu cơ tại các lò mổ.; - Chất thải lỏng: nước tiểu, nước rửa chuồng, tắm rửa gia súc, vệ sinh lò mổ, các dụng cụ…; - Chất thải khí: CO2, NH3, CH4… Chất thải rắn và nước thải. Chất thải rắn chủ yếu là phân, rác, thức ăn thừa của vật nuôi. Chất thải rắn chăn nuôi lợn có độ ẩm từ 56 - 83%, tỷ lệ N, P, K cao, chứa nhiều hợp chất hữa cơ, vô cơ và một lượng lớn các vi sinh vật, trứng các ký sinh trùng có thể gây bệnh cho người và vật nuôi.
Tùy theo đặc điểm chuồng nuôi và hình thức thu gom chất thải, chất thải chăn nuôi lợn bao gồm: chất thải rắn, nước tiểu, nước thải chăn nuôi (hỗn hợp phân, nước tiểu, nước rửa chuồng. Chất thải rắn - phân Là những thành phần từ thức ăn nước uống mà cơ thể gia súc không hấp thụ được và thải ra ngoài cơ thể. Phân gồm những thành phần: - Những dưỡng chất không tiêu hóa được của quá trình tiêu hóa vi sinh; - Các chất cặn bã của dịch tiêu hóa (trypsin, pepsin…), các mô tróc ra từ các niêm mạc của ống tiêu hóa và chất nhờn theo phân ra ngoài; - Các loại vi sinh vật trong thức ăn, ruột bị thải ra ngoài theo phân. Lượng phân Lượng phân thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào giống, loài, tuổi và khẩu phần ăn.
Lượng phân lợn thải ra mỗi ngày có thể ước tính 6 - 8% trọng lượng của vật nuôi. Lượng phân thải trung bình của lợn trong 24 giờ được thể hiện dưới bảng sau: 7 Bảng 1. Khối lượng phân và nước tiểu của gia súc thải ra trong 1 ngày đêm Loại gia súc Lượng phân (kg/ngày) Nước tiểu (kg/ngày) Trâu bò lớn 20 - 25 10 - 15 Lợn (< 10 kg) 0,5 - 1 0,3 - 0,7 Lợn (15 - 45 kg) 1-3 0,7 - 2,0 Lợn (45 - 100 kg) 3-5 2-4 (Nguồn: http://www.info/luan-van-tot-nghiep.html?page=4) Bảng 1. Lượng chất thải chăn nuôi ước tính năm 2008 Tổng số đầu con Chất thải rắn Loại vật Tổng chất thải TT năm 2008 bình quân nuôi rắn/năm (tr.000 con) (kg/con/ngày) 1 Bò 6,33 10 23,13 2 Trâu 2,89 15 15,86 3 Lợn 26,70 2 19,49 4 Gia cầm 247,32 0,2 18,05 5 Dê 1,34 1,5 0,73 6 Cừu 0,08 1,5 0,04 7 Ngựa 0,12 4 0,17 8 Hươu, nai 0,04 2,5 0,03 9 Chó 8,07 1 2,95 Tổng cộng 80,45 (Nguồn: http://www.info/luan-van-tot-nghiep.
Thành phần trong phân lợn Thành phần các chất trong phân lợn phụ thuộc vào nhiều yếu tố: - Thành phần dưỡng chất của thức ăn và nước uống; - Độ tuổi của lợn (mỗi độ tuổi sẽ có khả năng tiêu hóa khác nhau); - Tình trạng sức khỏe vật nuôi và nhu cầu cá thể: Nếu nhu cầu cá thể cao thì sử dụng dưỡng chất nhiều thì lượng phân thải sẽ ít và ngược lại. Thành phần (%) của phân gia súc gia cầm Loại phân Nước Nitơ P2O5 K2O CaO MgO Lợn 82,0 0,60 0,41 0,26 0,09 0,10 Trâu, bò 83,14 0,29 0,17 1,00 0,35 0,13 Gà 56,0 1,63 0,54 0,85 2,40 0,74 (Nguồn: http://www.info/luan-van-tot-nghiep.html?page=4) Ngoài ra, trong phân còn có chứa nhiều loại vi khuẩn, virus và trứng ký sinh trùng, trong đó vi khuẩn thuộc họ Enterobacteriacea chiếm đa số với các giống điển hình như Escherichia, Salmonella, Shigella, Proteus, Klebsiella. Trong 1 kg phân có chứa 2.000 trứng giun sán gồm chủ yếu các loại: Ascaris suum, Oesophagostomum, Trichocephalus (Nguyễn Thị Hoa Lý, 2004). Một số thành phần vi sinh vật trong chất thải rắn chăn nuôi lợn Chỉ tiêu Đơn vị Số lượng Coliform MNP/100 g 4.
Coli MPN/100 g 105 - 107 Streptococus MPN/100 g 3.102 - 104 Salmonella Vk/25 ml 10 - 104 Cl. Perfringens Vk/ml 10 - 102 Đơn bào MNP/10 g 0 - 103 (Nguồn: http://www.info/luan-van-tot-nghiep. Nước phân Nước phân chuồng là hỗn hợp phân, nước tiểu và nước rửa chuồng. Vì vậy, nước phân chuồng rất giàu chất dinh dưỡng và có giá trị lớn về mặt phân bón.
Trong 1 m3 nước phân có khoảng: 5 - 6 kg N nguyên chất; 0,1 kg P2O5; 12 kg K2O (Bergmann, 1965). Nước phân chuồng là nghèo lân, giàu đạm và rất giàu Kali. Đạm trong nước phân chuồng tồn tại theo 3 dạng chủ yếu là: 9 urê, axit uric và axit hippuric, khi để tiếp xúc với không khí một thời gian hay bón vào đất thì bị VSV phân giải axit uric và axit hippuric thành urê và sau đó chuyển thành amoni carbonat.