Chương 1. Khải luận chung về chính phủ điện tw, văn bản điện tử, tài liệu điện tử và lưu trữ tài liệu điện tử. Nội dung của chương này làm rõ khái niệm chính phủ điện tử, văn bản điện tử, tài liệu điện tử, lưu trữ tài liệu điện tử,. các đặc điểm cơ bản của tài liệu điện tử và sự cần thiết phải xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài liệu điện tử và lưu trữ tài liệu điện tử.
Quy định của pháp luật Việt Nam về tài liệu điện tử, lưu trữ tài liệu điện tử. Trong chương này, tác giả trình bày khái quát lịch sử hình thành các quy định về văn bản điện tử, tải liệu điện tử và lưu trữ tài liệu điện tử trong pháp luật Việt Nam; đồng thời giới thiệu những quy định chung về một số vấn đề liên quan như: chữ ký số; các tiêu chuẩn, quy chuẩn; lưu trữ tài liệu điện tử. Một số nhận xét, khuyến nghị Trong chương nay, tác gia đưa ra một số nhận xét, gợi mở một số van đề đặt ra nhằm góp thêm tiếng nói trong quá trình kiện toàn hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về tài liệu điện tử, lưu trữ tài liệu điện tử của Việt Nam. PHAN NOI DUNG Chuong 1 KHAI LUAN CHUNG VE CHINH PHU DIEN TU, VAN BAN DIEN TU, TAI LIEU ĐIỆN TU VA LƯU TRU TAI LIEU ĐIỆN TỬ 1.
Chính phủ điện tử Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong hoạt động quản lý, điều hành của nhà nước, thuật ngữ Chính phủ điện tử (E-Government) đã ra đời. Tuy nhiên, hiện chưa có một định nghĩa thống nhất về chính phủ điện tử. Các tổ chức khác nhau đưa ra những định nghĩa về Chính phủ điện tử của riêng mình. Ở Việt Nam bên cạnh thuật ngữ “Chính phủ điện tử”, trong nhiều văn bản hành chính còn đề cập đến những thuật ngữ như: “Việt Nam điện tử”, “Công dân điện tử”, “Doanh nghiệp điện tử”, “Giao dịch và thương mại điện tử”, “Thuế điện tử”, “Hải quan điện tử”, “Chính quyền điện tử”, “Công chức, viên chức điện tử”.
các thuật ngữ này đều chỉ sự ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết công việc của các cơ quan, tô chức, cá nhân. Nhìn chung, Chính phủ điện tử là một thuật ngữ chỉ hoạt động ứng dụng công nghệ thông tin của các cơ quan công quyền trong việc soạn thảo, ban hành, chu chuyên, giải quyết và lưu trữ văn bản; là hình thức cung cấp thông tin, cung cấp các dịch vụ công cũng như các hoạt động tương tác giữa Chính phủ và các cơ quan thuộc Chính phủ với các chủ thé trên môi trường mạng, nhằm tăng cường năng lực quản lý, điều hành của Chính phủ; mang lại thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp; tăng cường sự minh bạch, giảm chi phí hoạt động của bộ máy công quyền; làm tăng thu nhập quốc dân. Chính phủ điện tử được thiết kế theo 4 mối quan hệ chính: - Co quan nha nước cung cấp, trao đồi thông tin, dich vụ công trực tuyến tới người dân (G2C). - Cơ quan nhà nước cung cấp, trao đôi thông tin, dịch vụ công trực tuyến với doanh nghiệp (G2B).
- Các cơ quan nhà nước cung cấp, trao đôi thông tin, dịch vụ công trực tuyến với nhau (G26). - Cơ quan nhà nước cung cấp, trao đổi thông tin, dịch vụ công trực tuyến với cán bộ, công chức, viên chức (G2E) (M6 hình chính phủ điện tu-hinh dưới). Cơ quan chính quyền Ứng dụng CNTT-TT E————> Mục đích: Xây dựng Chính phủ hiện đại, lấy người đân làm trung tâm: Tăng hiệu quả hoạt động của các cơ quan Doanh nghiệp chính quyền, phục vụ người dan. doanh nghiệp tốt hon.
„| Thẻ chế, quy định pháp lý Mô hình Chính phủ điện tử Trong đó, dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước (hoặc tô chức, doanh nghiệp được ủy quyền) có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại văn bản, tài liệu có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý. Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng. Ở Việt Nam, dịch vụ công trực tuyến được thiết kế theo 4 mức độ. Theo Điều 3, Thông tư 26/2009/TT-BTTTT: Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 là dịch vụ đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ SƠ; thời hạn; phí và lệ phí thực hiện dịch vụ.
Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 là dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo dé hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu. Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đên cơ quan, tô chức cung câp dịch vụ. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng.
Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng. Như vậy, việc đây mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, truyền thông trong hoạt động quản lý nói riêng hay việc phát triển chính phủ điện tử nói chung tat yếu nay sinh một loại văn bản, tài liệu mới — văn bản điện tử, tai liệu điện tử và các hệ thống thông tin đề tạo lập, chu chuyên, quản lý loại tài liệu này.
Văn bản điện tử, tài liệu điện tử, lưu trữ tài liệu điện tử - Văn bản điện tử. Trong văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam thuộc lĩnh vực văn thư, lưu trữ, khái niệm văn bản không được định nghĩa cụ thé. Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 về Công tác văn thư và Nghị định 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 của Chính phủ sửa đối, bô sung một số điều của Nghị định 110/2004 đưa ra các khái nệm “bản thảo văn bản”, “bản gốc văn bản”, “bản chính văn bản”. Theo đó, “bản thảo văn bản” là bản được viết hoặc đánh máy, hình thành trong quá trình soạn thảo một văn bản của cơ quan, tổ chức.
“Bản gốc văn bản” là bản hoàn chỉnh về nội dung, thé thức văn ban được cơ quan, tô chức ban hành và có chữ ký trực tiếp của người có thâm quyền. “Bản chính văn bản” là bản hoàn chỉnh về nội dung, thé thức văn ban và được co quan, tổ chức ban hành. Về khái niệm văn bản điện tử, khoản 8, Điều 3, Nghị định 64/2007/NĐ-CP định nghĩa: Văn bản điện tử là văn ban được thể hiện dưới dang thông điệp dir liệu. Trong đó, “thong điệp dit liệu là thông tin được tạo ra, được gửi di, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện điện tử” (khoản 12, Điều 4, Luật Giao địch điện tử).
Trong Luật Chính phủ điện tử năm 2014 của Hàn Quốc, khái niệm văn bản điện tử được định nghĩa như sau: Van bản điện tử là các thông tin chuẩn hóa, được soạn thảo, truyền, nhận hoặc lưu trữ trong định dạng số bởi các thiết bị có kha năng xử ly thông tin, vi dụ như là các máy tinh. Trong các văn bản quy phạm pháp luật thuộc lĩnh vực tài chính, ngân hàng, hải quan, kho bạc, thương mại điện tử, khái niệm “chứng từ điện tử” được sử dụng phô biến, với ý nghĩa là một loại văn bản điện tử, tài liệu điện tử chuyên ngành. Tóm lại, hiểu theo nghĩa chung nhất văn bản điện tử là thông tin được tạo ra, được gửi di, được nhận và được lưu trữ bang phương tiện điện tử. Trong đó, thông tin là tri thức về người, sự vật, sự việc, sự kiện, hiện tượng.
- Tài liệu điện tử. Nhìn từ góc độ lưu trữ, chỉ có tỷ lệ nhỏ văn bản được tạo ra trong hoạt động của một cơ quan, tổ chức, cá nhân. trở thành tài liệu lưu trữ (được giữ lại với tư cách là chứng cứ cho hoạt động của chủ thé). Khi nhận xét về sự vận động của khái niệm tải liệu, trong cuốn “Tài liệu điện tử trong quản lý” GS.
Larin (Viện trưởng Viện Lưu trữ Liên bang Nga) cho rằng: Vấn đề nồi bat được đề cập xuyên suốt trong sự vận động, phát triển của nội hàm khái niệm này là tính liên kết giữa vật mang tin và thông tin được có định trên vật mang đó. Những định nghĩa trước đây có xu hướng chú trọng tới vật mang thông tin nhiều hơn, còn những định nghĩa gần đây lại chú ý nhiều tới thông tin tạo nên tài liệu. Ví dụ, bản tiêu chuẩn thuật ngữ đầu tiên của Nga trong lĩnh vực công tác văn thư TCNN 1647-70 “Công tác văn thư và công tác lưu trữ. Những thuật ngữ và định nghĩa” định nghĩa “tai liệu là phương tiện cố định các tin tức về các sự vật, sự kiện, hiện tượng của hiện thực khách quan và hoạt động tư duy của con người”.
Trong tiêu chuẩn thuật ngữ TCNN 16487-83 “Công tác văn thư và công tác lưu trữ. Những thuật ngữ và định nghĩa”, thuật ngữ “tai liéu’ được định nghĩa là: “đối tượng vật chất với thông tin được con người cô định để truyền thông tin đó theo thời gian và trong không gian”. Trong Luật Liên bang Nga “Về thông tin hoá và bảo vệ thông tin” và tiêu chuẩn nhà nước TCNN P 51141-98 khái niệm tải liệu được định nghĩa: “Tai liệu là thông tin được có định trên vật mang vật chất kèm 10 theo các yếu tô thé thức mà những yếu to đó cho phép nhận dạng được thông tin”. Đối với hoạt động quản lý nói chung và đối với công tác văn thư, lưu trữ nói riêng, yếu tố thông tin trong tài liệu có thé nhận dạng và được trình bày theo thủ tục và thé thức nhất định là hết sức cần thiết.
Bên cạnh đó, tài liệu còn có thêm hai đặc trưng nồi bật. Trước hết, thông tin được có định trong tài liệu có sự tham gia có y thức của con người. Cho nên tài liệu phản ánh quá trình quản lý hoặc hoạt động của cá nhân, tổ chức.