Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Tấn (lớp K45D1, dưới sự hướng dẫn của ThS. Trần Mạnh Tường) tập trung nghiên cứu công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Vương Gia. Bối cảnh thực tiễn được tác giả đặt ra gắn liền với quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là việc gia nhập ASEAN và trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Khi các rào cản thuế quan dần được gỡ bỏ, các doanh nghiệp trong nước đối mặt với sức ép cạnh tranh ngày càng cao, đòi hỏi phải hoàn thiện các công cụ quản lý kinh tế, mà trọng tâm là hệ thống kế toán tài chính. Trong lĩnh vực xây lắp, chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng áp đảo, dao động từ 60% đến 70% tổng chi phí sản xuất kinh doanh. Do đó, việc quản lý chặt chẽ nguyên vật liệu từ khâu thu mua, bảo quản dự trữ đến khâu xuất dùng có ý nghĩa trực tiếp đối với việc hạ giá thành công trình và nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được phân định thành mục tiêu chung và hệ thống mục tiêu cụ thể:

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng công tác hạch toán hàng hóa, nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm tại doanh nghiệp; nhận diện các ưu điểm, nhược điểm và tồn tại trong tổ chức kế toán nhằm đề xuất các giải pháp hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của đơn vị.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Tổng kết và hệ thống hóa các vấn đề lý luận mang tính tổng quan về tổ chức kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp.
    • Đánh giá thực trạng tổ chức công tác kế toán nguyên vật liệu tại Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Vương Gia.
    • Đề xuất các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán nguyên vật liệu trên cơ sở luận cứ khoa học và số liệu thực tế phát sinh, hỗ trợ ban lãnh đạo hoạch định chiến lược kinh doanh.
    • Rèn luyện và nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ kế toán của tác giả qua nghiên cứu thực tế.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp xây lắp. Phạm vi nghiên cứu được giới hạn như sau:

  • Phạm vi không gian: Thực hiện tại Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Vương Gia; khảo sát chuyên sâu tại công trình "Tu sửa và nâng cấp trường tiểu học xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội".
  • Phạm vi thời gian: Về mặt lý luận và chế độ, tác giả thu thập tài liệu từ khi Chế độ Kế toán Doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC của Bộ Tài chính có hiệu lực; về mặt thực tiễn, tác giả thu thập và phân tích các số liệu, nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng 6 năm 2012.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản pháp lý, chuẩn mực và lý luận kế toán doanh nghiệp hiện hành tại thời điểm nghiên cứu:

  • Khung pháp lý và chuẩn mực kế toán: Đề tài áp dụng Chế độ Kế toán Doanh nghiệp ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài chính; Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01 - Chuẩn mực chung) với 7 nguyên tắc kế toán cơ bản gồm: Cơ sở dồn tích, Hoạt động liên tục, Giá gốc, Phù hợp, Nhất quán, Thận trọng và Trọng yếu; Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 02 (VAS 02 - Hàng tồn kho) quy định về nguyên tắc ghi nhận ban đầu theo giá gốc, xác định giá trị thuần có thể thực hiện được, các phương pháp tính giá hàng tồn kho xuất kho (Giá thực tế đích danh, Bình quân gia quyền, Nhập trước xuất trước - FIFO, Nhập sau xuất trước - LIFO, Hệ số giá) và nguyên tắc trích lập dự phòng giảm giá hàng tồn kho vào thời điểm cuối kỳ kế toán năm thông qua Tài khoản 159.
  • Cơ sở lý thuyết về tổ chức kế toán nguyên vật liệu: Hệ thống hóa phương pháp kế toán chi tiết nguyên vật liệu (phương pháp thẻ song song, phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển, phương pháp sổ số dư); phương pháp kế toán tổng hợp nguyên vật liệu theo phương pháp kê khai thường xuyên và kiểm kê định kỳ; các hình thức tổ chức sổ kế toán (Nhật ký chung, Chứng từ ghi sổ, Nhật ký - Sổ Cái, Nhật ký - Chứng từ và hình thức kế toán máy vi tính).

Tác giả phối hợp ba phương pháp nghiên cứu thực tiễn để thu thập và xử lý thông tin tại đơn vị:

  • Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp nhân viên phòng kế toán công ty bằng bộ câu hỏi cụ thể xoay quanh mô hình tổ chức kế toán, tính thích ứng của bộ máy, cách thức xử lý trường hợp hàng về trước hóa đơn về sau, thủ tục xuất kho và quy trình hạch toán xuất dùng nguyên vật liệu cho công trình xây lắp.
  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập và nghiên cứu hệ thống chứng từ kế toán gốc (hóa đơn GTGT, phiếu nhập kho, phiếu xuất kho, biên bản kiểm nghiệm), sổ kế toán tổng hợp, sổ kế toán chi tiết, báo cáo tài chính của công ty trong tháng 6/2012; kết hợp đối chiếu với các văn bản quy phạm pháp luật, giáo trình kế toán tài chính và các công trình khóa luận chuyên ngành liên quan.
  • Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp quy trình luân chuyển chứng từ từ khâu phát sinh ban đầu, việc phân công phần hành giữa các kế toán viên, quy trình nhập liệu vào máy tính, đến các bước lên bảng cân đối tài khoản và lập báo cáo kế toán tại công ty.

Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu là dữ liệu sơ cấp từ quan sát, phỏng vấn và dữ liệu thứ cấp trích xuất từ hệ thống sổ sách kế toán, chứng từ phát sinh thực tế của Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Vương Gia vào tháng 6 năm 2012.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận của kế toán nguyên vật liệu trong các doanh nghiệp

Chương này trình bày toàn diện khung lý thuyết về kế toán nguyên vật liệu trong doanh nghiệp sản xuất và xây lắp. Tác giả định nghĩa nguyên vật liệu là đối tượng lao động, một trong ba yếu tố cơ bản cấu thành quá trình sản xuất; khi tham gia vào chu kỳ sản xuất, nguyên vật liệu bị tiêu hao toàn bộ hoặc thay đổi hình thái vật chất ban đầu, và giá trị của chúng được chuyển dịch một lần vào chi phí kinh doanh trong kỳ. Căn cứ vào nội dung kinh tế và yêu cầu quản trị, nguyên vật liệu được phân chia thành: nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu và thiết bị xây dựng cơ bản, vật liệu khác. Căn cứ vào nguồn hình thành gồm vật liệu mua ngoài và tự chế; căn cứ vào mục đích sử dụng gồm vật liệu dùng trực tiếp cho sản xuất kinh doanh và dùng cho nhu cầu khác.

Về phương pháp tính giá, chương 1 phân tích chi tiết công thức xác định giá gốc vật tư nhập kho từ các nguồn (mua ngoài, tự gia công chế biến, nhận vốn góp) và 5 phương pháp định giá xuất kho theo quy định của VAS 02. Đối với hạch toán chi tiết hàng tồn kho, chương 1 so sánh ưu điểm, nhược điểm và điều kiện áp dụng của ba phương pháp:

  • Phương pháp thẻ song song: Thủ kho ghi chép số lượng trên thẻ kho, phòng kế toán ghi chép cả số lượng và giá trị trên sổ chi tiết; cuối tháng đối chiếu số liệu và lập bảng kê tổng hợp nhập - xuất - tồn. Phương pháp này đơn giản, dễ đối chiếu nhưng có sự trùng lặp chỉ tiêu số lượng.
  • Phương pháp sổ đối chiếu luân chuyển: Thủ kho ghi thẻ kho, kế toán ghi sổ đối chiếu luân chuyển vào cuối tháng dựa trên các bảng kê. Phương pháp này giảm khối lượng ghi chép hàng ngày nhưng việc đối chiếu dồn vào cuối kỳ.
  • Phương pháp sổ số dư: Kết hợp ghi chép giữa thẻ kho và sổ số dư, định kỳ chuyển chứng từ bằng phiếu giao nhận; phù hợp với doanh nghiệp nhiều chủng loại vật tư nhưng đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao.

Về hạch toán tổng hợp, tác giả hệ thống hóa sơ đồ tài khoản sử dụng gồm TK 152 (mở chi tiết các tiểu khoản: TK 1521, TK 1522, TK 1523, TK 1524, TK 1528), TK 151, TK 159, các tài khoản chi phí liên quan (TK 621, TK 627, TK 641, TK 642) và các tài khoản thanh toán; đồng thời mô tả cấu trúc luân chuyển chứng từ của 5 hình thức ghi sổ kế toán (Nhật ký chung, Chứng từ ghi sổ, Nhật ký - Sổ Cái, Nhật ký - Chứng từ, Kế toán máy vi tính).

Chương 2: Thực trạng kế toán nguyên vật liệu xây dựng tại Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Vương Gia

Chương 2 mô tả chi tiết đặc điểm tổ chức hoạt động, bộ máy quản lý và thực trạng hạch toán nguyên vật liệu tại đơn vị nghiên cứu:

  • Tổng quan doanh nghiệp: Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Vương Gia thành lập ngày 23/09/2010; trụ sở tại thôn Yên Nội, xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; mã số thuế 0104927864; số đăng ký kinh doanh 0104104124; do ông Vương Xuân Trang làm Giám đốc; hoạt động theo loại hình công ty TNHH một thành viên. Lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính là buôn bán đá, cát, thép xây dựng, máy xây dựng cỡ nhỏ, cấu kiện bê tông đúc sẵn, nhận thầu thi công xây lắp công trình, tư vấn giám sát, thiết kế nền móng và công trình. Cơ cấu quản trị gồm Giám đốc, Phó Giám đốc và 4 phòng ban chức năng: Phòng Tổ chức hành chính, Phòng Tài chính - Kế toán, Phòng Kế hoạch kỹ thuật, Phòng Vật tư dịch vụ.
  • Quy trình sản xuất kinh doanh và đặc điểm nguyên vật liệu: Quy trình thi công công trình gồm 3 giai đoạn: Chuẩn bị (khảo sát địa hình, dựng lán trại, tập kết máy móc và vật tư) -> Thi công (thi công cốt thép, vận hành máy trộn bê tông, đổ dầm sàn cột, xây thô, trát ốp hoàn thiện và lắp đặt hệ thống điện nước) -> Hoàn thành nghiệm thu và bàn giao. Nguyên vật liệu phục vụ công trình tu sửa, nâng cấp trường tiểu học xã Đồng Quang chủ yếu nhập từ các đại lý phân phối cấp 1, bao gồm: xi măng (xi măng trắng, PCB 30, PCB 300, P400), sắt thép (thép ø6, thép ø10, thép tấm), gạch chỉ, gạch rỗng, gạch xi măng, đá, ngói, vôi ve, gỗ; nhiên liệu (xăng, dầu); phụ tùng thay thế (lốp ô tô, mũi khoan, máy đục, máy cắt bê tông); phế liệu thu hồi (sắt thép vụn, vỏ bao xi măng, gỗ cốt pha cũ). Vật liệu xây dựng có đặc tính khối lượng lớn, cồng kềnh, dễ hao hụt, han rỉ (sắt thép), trôi dạt (cát sỏi) hoặc đông cứng mất phẩm chất (xi măng).
  • Tổ chức công tác kế toán tại công ty: Áp dụng mô hình tổ chức kế toán tập trung; niên độ kế toán từ 01/01 đến 31/12; đơn vị tiền tệ ghi sổ là Việt Nam đồng (VNĐ); tuân thủ Chế độ Kế toán Doanh nghiệp theo Quyết định 15/2006/QĐ-BTC và 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam. Hàng tồn kho được hạch toán theo phương pháp kê khai thường xuyên; tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO); hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song; tính thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ; trích khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng; hình thức sổ kế toán là Nhật ký chung.
  • Thực trạng luân chuyển chứng từ và hạch toán nghiệp vụ: Quy trình nhập kho được thực hiện qua ban kiểm nhận (thủ kho, kế toán vật tư, cán bộ phụ trách, người giao hàng), lập biên bản kiểm nghiệm, kế toán lập Phiếu nhập kho (Mẫu 01-VT), thủ kho kiểm nhận hàng, ký xác nhận và vào Thẻ kho, sau đó chuyển phiếu cho kế toán ghi Sổ Nhật ký chung và Sổ chi tiết vật tư mà không cần phê duyệt của Giám đốc ở từng lần nhập. Ngược lại, quy trình xuất kho bắt buộc phải có sự kiểm soát chặt chẽ: kỹ sư công trình hoặc đội trưởng thi công lập đề nghị xuất kho, bộ phận phụ trách lập Phiếu xuất kho (Mẫu 02-VT), thủ kho thực hiện xuất vật tư, kế toán trưởng ký duyệt để ghi sổ kế toán và định kỳ trình Giám đốc ký duyệt chính thức.

Khóa luận minh họa thực tế thông qua các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong tháng 6/2012 phục vụ công trình trường tiểu học xã Đồng Quang:

Ngày phát sinh Chứng từ thực tế Nội dung nghiệp vụ kinh tế Định khoản kế toán (VNĐ)
02/06/2012 Hóa đơn GTGT, Phiếu nhập kho số 2.9, Phiếu chi Nhập mua 15 tấn xi măng Hoàng Thạch PCB 30 của cửa hàng Trần Cát, đơn giá 1.275.000 đ/tấn; thuế GTGT 10%; thanh toán ngay bằng tiền mặt. Nợ TK 152: 19.125.000
Nợ TK 133: 1.912.500
Có TK 111: 21.037.500
12/06/2012 Hóa đơn GTGT, Phiếu nhập kho số 2.12, Phiếu chi Nhập mua 10 tấn xi măng Hoàng Thạch PCB 30 của Công ty Hưng Phát, đơn giá 1.296.000 đ/tấn; thuế GTGT 10%; thanh toán ngay bằng tiền mặt (theo số liệu ghi nhận trong văn bản). Nợ TK 152: 10.368.000
Có TK 133: 1.036.800 (*)
Có TK 111: 11.404.800
12/06/2012 Phiếu xuất kho số 2.13 Xuất kho 5 tấn xi măng Hoàng Thạch PCB 30 từ số tồn kho tháng trước, đơn giá xuất kho 1.155.500 đ/tấn, phục vụ công trình trường tiểu học Đồng Quang. Nợ TK 621: 5.777.500
Có TK 152: 5.777.500
14/06/2012 Phiếu xuất kho số 2.14 Xuất kho 10 tấn xi măng phục vụ công trình trường tiểu học Đồng Quang; áp dụng đơn giá lô nhập ngày 02/06/2012 theo phương pháp FIFO (1.275.000 đ/tấn). Nợ TK 621: 12.755.000 (**)
Có TK 152: 12.755.000
18/06/2012 Hóa đơn GTGT, Phiếu nhập kho số 2.16, Phiếu chi Nhập mua 24 cái khóa MK 14C, đơn giá 495.000 đ/cái; thuế GTGT 10%; thanh toán ngay bằng tiền mặt. Nợ TK 152: 11.880.000
Nợ TK 133: 1.188.000
Có TK 111: 13.068.000

Ghi chú số liệu từ văn bản gốc:

  • (*) Tại nghiệp vụ ngày 12/06/2012, tác giả ghi nhầm bút toán đối ứng bên Có TK 133 thay vì Nợ TK 133, với giá trị ghi sổ là 1.036.800 đồng và giá mua chưa thuế là 10.368.000 đồng.
  • (**) Tại nghiệp vụ ngày 14/06/2012, xuất 10 tấn xi măng với đơn giá 1.275.000 đ/tấn, giá trị ghi sổ của công ty phản ánh là 12.755.000 đồng.

Chương 3: Các kết luận và đề xuất về kế toán NVL để phục vụ công trình tu sửa và nâng cấp trường tiểu học xã Đồng Quang tại Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Vương Gia

Trong chương 3, tác giả tổng kết các kết quả đạt được cũng như chỉ ra những bất cập, hạn chế còn tồn tại tại doanh nghiệp:

  • Ưu điểm đạt được: Công ty đã tổ chức hạch toán chi phí vật liệu chi tiết theo từng công trình, hạng mục công trình và phân kỳ theo quý (mỗi năm 4 quý, mỗi quý 3 tháng); áp dụng mô hình kho bảo quản riêng biệt tại từng công trình giúp giảm thiểu rủi ro hao hụt vật tư và tạo thuận lợi cho việc theo dõi, kiểm soát thu mua, dự trữ; mô hình kế toán tập trung bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của kế toán trưởng; việc theo dõi giá nhập xuất theo giá thực tế phản ánh chính xác chi phí đầu vào và hao phí vật chất; quy trình cung ứng được kiểm soát qua phòng kế toán vật tư dựa trên định mức kỹ thuật và kế hoạch thi công.
  • Hạn chế và nguyên nhân:
    • Cơ cấu nhân sự kế toán tại các công trình quá mỏng: Chỉ bố trí 1 kế toán và 1 thủ kho kiêm thủ quỹ cho mỗi công trình, trong khi công ty thường thi công đồng thời từ 1 đến 2 công trình ở các địa bàn khác nhau với khối lượng nghiệp vụ kinh tế lớn, dẫn đến tình trạng quá tải, giảm độ chính xác của số liệu kế toán vật tư.
    • Luân chuyển chứng từ bị chậm trễ: Do khoảng cách địa lý giữa phòng kế toán trung tâm và kho vật tư tại các công trường thi công xa nhau; công tác đánh giá vật tư dở dang đầu kỳ, cuối kỳ chưa kịp thời, gây ảnh hưởng đến việc tính giá thành sản phẩm xây lắp.
    • Công tác phân loại vật tư chưa được thực hiện triệt để: Doanh nghiệp không tiến hành phân loại danh mục nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ một cách bài bản trên hệ thống sổ kế toán.
    • Tổ chức sổ kế toán chi tiết nhà cung cấp thiếu khoa học: Công ty mở quá nhiều sổ chi tiết theo dõi cho cả những khách hàng vãng lai, không thường xuyên (mỗi quý có tới hàng trăm nhà cung cấp nhưng chỉ có khoảng 10 nhà cung cấp thường xuyên), làm gia tăng khối lượng ghi chép không cần thiết cho nhân viên kế toán.

Kết quả và đóng góp

Về kết quả nghiên cứu, khóa luận đã tái hiện chân thực và trích xuất đầy đủ dữ liệu thực trạng công tác hạch toán chi phí nguyên vật liệu tại một công trình xây dựng dân dụng cụ thể (trường tiểu học xã Đồng Quang). Nghiên cứu làm rõ quy trình lập và luân chuyển hệ thống chứng từ vật tư (Phiếu nhập kho Mẫu 01-VT, Phiếu xuất kho Mẫu 02-VT, Hóa đơn GTGT, Biên bản kiểm nghiệm), kỹ thuật định khoản kế toán tài chính (TK 152, TK 621, TK 111, TK 133) và việc ứng dụng phương pháp xuất kho FIFO kết hợp hình thức ghi sổ Nhật ký chung trên hệ thống Sổ Cái, Sổ thẻ chi tiết vật tư, Sổ chi tiết thanh toán.

Về giải pháp và kiến nghị, tác giả đã định hướng việc kiện toàn bộ máy quản lý và tổ chức hạch toán thông qua các điểm mấu chốt:

  • Cần bổ sung và tái bố trí nhân sự kế toán phù hợp với số lượng công trình thi công, tránh tình trạng kiêm nhiệm quá mức (thủ kho kiêm thủ quỹ) nhằm bảo đảm tính độc lập, khách quan và nâng cao độ chính xác trong ghi chép số liệu.
  • Rút ngắn khoảng cách và thời gian luân chuyển chứng từ giữa kho công trình và phòng kế toán, tăng cường công tác đánh giá giá trị vật liệu tồn kho cuối kỳ để phục vụ tính giá thành xây lắp chính xác.
  • Xây dựng hệ thống danh mục mã hóa phân loại nguyên vật liệu và công cụ dụng cụ khoa học theo tính chất kinh tế.
  • Tối ưu hóa việc mở sổ kế toán chi tiết thanh toán với nhà cung cấp: chỉ mở sổ theo dõi riêng đối với các nhà cung cấp thường xuyên (khoảng 10 đối tác chính), đối với các đối tượng mua lẻ vãng lai nên tổng hợp vào sổ theo dõi chung để tinh gọn bộ máy sổ sách.

Về mặt đóng góp, nghiên cứu phản ánh sát thực mô hình kế toán của một doanh nghiệp xây lắp quy mô vừa và nhỏ mới thành lập (hoạt động từ tháng 9/2010), chỉ ra những sai lệch thực tế trong thao tác nghiệp vụ của kế toán viên (như việc định khoản nhầm bên Có TK 133 hay chênh lệch số học nhỏ giữa đơn giá và thành tiền xuất kho) – những dữ liệu mà các nghiên cứu thuần túy lý thuyết không thể hiện được.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế nhất định xuất phát từ phạm vi và điều kiện thực hiện của tác giả:

  • Về phạm vi dữ liệu: Nghiên cứu chỉ tập trung phân tích số liệu phát sinh trong phạm vi hẹp là 01 tháng (tháng 6 năm 2012) tại một công trình đơn lẻ (tu sửa trường tiểu học xã Đồng Quang), do đó chưa phản ánh được toàn cảnh biến động chi phí nguyên vật liệu qua các chu kỳ kinh doanh trọn vẹn hoặc các loại hình công trình có quy mô phức tạp hơn (như thi công cầu cống, khu công nghiệp).
  • Về dung lượng văn bản: Phần trình bày giải pháp tại Chương 3 trong bản thảo bị ngắt quãng ở trang 46 (dừng lại sau phân tích bất cập về mở sổ chi tiết nhà cung cấp), chưa triển khai chi tiết các đề xuất cụ thể và mục "Điều kiện thực hiện" (trang 51 theo Mục lục).
  • Hạn chế do tác giả tự nhận định: Tác giả tự thừa nhận đây là lần đầu tiếp cận thực tế công tác kế toán nên kinh nghiệm thực tế còn bỡ ngỡ, thời gian thực tập có hạn, kiến thức và trình độ nhận thức chuyên môn còn những thiếu sót nhất định trong việc phân tích và đánh giá số liệu kinh tế.

Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng thu thập số liệu trên nhiều niên độ kế toán liên tiếp, khảo sát đồng thời nhiều công trình xây lắp đa dạng của doanh nghiệp và hoàn thiện hệ thống giải pháp tổ chức kế toán chi phí - tính giá thành gắn liền với việc ứng dụng phần mềm kế toán chuyên dụng.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo thiết thực cho sinh viên các chuyên ngành Kế toán, Kiểm toán, Tài chính doanh nghiệp và Quản trị kinh doanh xây dựng, đặc biệt là những người đang chuẩn bị làm báo cáo thực tập tốt nghiệp hoặc khóa luận về đề tài hạch toán nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ trong doanh nghiệp xây lắp.

Nội dung đáng tham khảo nhất của công trình nằm ở Chương 2, bao gồm:

  • Quy trình kiểm soát và luân chuyển chứng từ nhập - xuất kho thực tế tại hiện trường công trình xây dựng (phân định rõ vai trò kiểm nhận của thủ kho, kỹ sư công trường, kế toán vật tư và thẩm quyền phê duyệt của Giám đốc).
  • Cách thức vận dụng hình thức kế toán Nhật ký chung và phương pháp tính giá FIFO đối với các mặt hàng vật liệu biến động giá thường xuyên (xi măng, sắt thép).
  • Các tình huống phát sinh sai lệch giữa số liệu thực tế và nguyên lý kế toán lý thuyết, giúp người đọc nhận biết các lỗi thường gặp trong khâu định khoản và ghi sổ chi tiết tại các doanh nghiệp xây lắp vừa và nhỏ.

Câu hỏi thường gặp

Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Vương Gia áp dụng hình thức sổ kế toán và phương pháp hạch toán hàng tồn kho nào?

Theo khóa luận, Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Vương Gia áp dụng hình thức sổ kế toán Nhật ký chung; hạch toán hàng tồn kho theo phương pháp kê khai thường xuyên; tính giá trị nguyên vật liệu xuất kho theo phương pháp nhập trước - xuất trước (FIFO); và hạch toán chi tiết nguyên vật liệu theo phương pháp thẻ song song.

Quy trình phê duyệt xuất kho nguyên vật liệu tại công trình trường tiểu học Đồng Quang diễn ra như thế nào?

Khi có nhu cầu sử dụng vật tư thi công, đội trưởng hoặc kỹ sư phụ trách lập đề nghị xuất vật tư. Bộ phận phụ trách duyệt và lập Phiếu xuất kho (Mẫu 02-VT), sau đó chuyển cho thủ kho tiến hành xuất vật tư và ký xác nhận. Chứng từ được chuyển lại cho kế toán vật tư, kế toán trưởng ký duyệt rồi tiến hành ghi Sổ Nhật ký chung, Thẻ kho và Sổ chi tiết nguyên vật liệu. Định kỳ, Phiếu xuất kho được trình Giám đốc công ty ký duyệt chính thức.

Phương pháp tính giá FIFO được thể hiện qua nghiệp vụ xuất kho cụ thể nào trong tháng 6/2012?

Phương pháp FIFO được thể hiện rõ nét qua nghiệp vụ ngày 14/06/2012 (Phiếu xuất kho số 2.14). Doanh nghiệp xuất kho 10 tấn xi măng phục vụ công trình trường tiểu học Đồng Quang. Đơn giá xuất kho được lấy theo đúng đơn giá của lô xi măng nhập mua ngày 02/06/2012 từ cửa hàng Trần Cát là 1.275.000 đ/tấn, hạch toán vào chi phí nguyên vật liệu trực tiếp (Nợ TK 621 / Có TK 152: 12.755.000 đồng theo ghi nhận sổ sách của đơn vị).

Bất cập lớn nhất về tổ chức bộ máy nhân sự kế toán tại các công trình của công ty là gì?

Tác giả chỉ rõ công ty bố trí nhân sự quá mỏng tại các công trường: mỗi công trình chỉ có 1 kế toán và 1 thủ kho kiêm thủ quỹ. Trong khi đó, doanh nghiệp thường thi công từ 1 đến 2 công trình tại các địa bàn khác nhau với giá trị xây lắp lớn và phát sinh nhiều nghiệp vụ kinh tế, khiến nhân viên kế toán bị quá tải, dẫn đến công tác ghi chép, hạch toán chi phí nguyên vật liệu dễ xảy ra sai sót và chậm trễ.

Việc tổ chức sổ kế toán chi tiết nhà cung cấp tại Công ty Vương Gia có điểm gì bất hợp lý?

Công ty mở quá nhiều sổ chi tiết cho toàn bộ các nhà cung cấp vật tư, kể cả những đối tượng vãng lai chỉ mua sắm một vài lần. Trong khi mỗi quý công ty giao dịch với vài trăm người cung cấp nhưng chỉ có khoảng 10 nhà cung cấp là thường xuyên, việc lập sổ chi tiết riêng lẻ cho từng người bán nhỏ lẻ làm gia tăng gánh nặng ghi chép và cồng kềnh hệ thống sổ sách không cần thiết.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Văn Tấn đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở lý luận về kế toán nguyên vật liệu theo Chế độ Kế toán Doanh nghiệp (Quyết định 15/2006/QĐ-BTC) và các chuẩn mực VAS 01, VAS 02. Nghiên cứu phản ánh trung thực thực trạng công tác hạch toán vật tư tại Công ty TNHH Đầu tư và Xây dựng Vương Gia thông qua chuỗi số liệu thực tế phát sinh trong tháng 6/2012 tại công trình trường tiểu học xã Đồng Quang. Mặc dù còn hạn chế về thời gian khảo sát và dung lượng văn bản của phần giải pháp bị cắt đoạn, công trình đã chỉ ra được những ưu điểm về quản lý kho công trình cũng như những tồn tại thực tế về bố trí nhân sự, luân chuyển chứng từ và tổ chức sổ sách tại một doanh nghiệp xây lắp vừa và nhỏ.