Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Trong hơn nửa thế kỷ qua thực hiện đường lối đúng đắn cùa Dàng về phát triển sự nghiệp chăm sóc sức khóè (CSSK) nhân dân, ngành Y tế dã thu được nhưng thành tựu to lớn trẽn các lĩnh vực phòng bệnh, chữa bệnh, sản xuất thuốc, phát triển khoa học y dược cũng như chãm sóc sức khoẻ ban đẩu (CSSKBĐ). Trong nhừng thành tựu quan trọng đó, xây dựng và phát triển y tế cơ sở trong đó có y tê' xà phường, thôn bàn, được đánh giá là một trong nhừng thành tựu quan trọng nhất, nổi bật nhất mang lại lợi ích thiết thực trong CSSK nhân dãn ở kháp mọi miền từ đồng bẳng đến miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa mà không phải ờ nơi nào trên thế giới cũng có thê làm được.1 Thực trạng tổ chúc và hoạt động y tè thỏn ở Việt Nam J.J Tình hình chưng về hệ thống y tế Việt Nam Việt Nam là một nước nóng nghiệp, khoảng 80% dân sô làm nông nghiệp sóng ở nông thôn. Địa hình dổi núi phức tạp, chia cắt, giao thông đi lại còn khó khăn đặc biệt là các vùng nông thôn, vùng miển núi, vùng sâu. Mô hình bênh lật cùa nước ta là mô hình bệnh Lật cùa một nước chậm phát triển thuộc vùng nhiệt đới nóng ẩm, đối tượng phục vụ của y tê chú yếu là nông dân.
Từ (hực tế đó hệ thống y tế Việt Nam được xây dựng và quản lý trên các nguyên tắc: - Bào đám phục vụ nhân dân kịp thời, có hiệu quả cao, đáp ứng được nhu cầu của người dân khi cần là có săn thầy, sắn thuốc. - Xây dựng theo hướng y tế dự phòng bản chất của nen y tê' XHCN - Phù hợp với tình hình kinh tế của mồi dịa phương. - Phù hợp với trinh độ khoa học kỹ thuật và khả nãng quân lý cùa ngành Y tế. - Đàm bảo không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ, Trên cơ sở cùa các nguyên tắc dó, hệ thống y tế ở nước la hiện nay được chia theo 4 tuyến: Tuyến trung ương, tuyến tỉnh/ thành phớ, tuyến quận/ huyện/ thị xã, tuyên xã/ phường.
Y tê cơ sở bao gồm tuyến quận/ huyện/ thị xã và tuyến xã/ phường, trong đó có y lê' ihôn bản ở miền núi và y tồ' thởn ờ miền xuôi. Y tế cơ sở đóng vai irò quan trọng trong công tác chàm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhản dân. Y tế 5 cơ sở là đơn vị y tế gần dân nhất, phát hiện ra những vân đé y tế sớm nhất và giải quyết hơn 80% khối lượng y tế tại chồ. là nơi thể hiện sự cõng bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dán.
Y tế cơ sở cũng là nơi trực tiếp triển khai, thực hiện và kiểm nghiệm các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về y tế. Y tê' cơ sở là bộ phân quan trọng trong ngành y tế tham gia vào ổn định chính trị, kinh tế xã hội tại cộng đổng dân cư. ị 19] Trong những năm từ 1976 đến 1990 mạng lưới y tê' cơ sở dứng trước những khó khãn phức tạp. Sự chuyển đời châm chạp của hệ thống hành chính nhà nước, cơ chê' quản lý quan liêu bao cấp đã làm cho y tê' cơ sở bị xuống cấp nghiêm trọng.
Đội ngũ cán bộ y tế thiếu, kình phí hoạt dộng không có. Đặc biệt ớ vùng núi, vùng sâu, vùng xa nhiẻu bệnh viện huyện không có bệnh nhân đến diều tộ, nhiều trạm y tế xã bỏ hoang, y tê' thôn bị ỉãng quèn [19]. Hiện nay, với tác động của nên kinh tế thị trường bên cạnh những thành lựu mà ngành y tế dạt được như trang thiết bị y tế phục vụ chẩn đoán và điểu trị cho bệnh nhân ngày càng hiện dại. trình độ của cán bộ y tế được nâng cao, đã xây dựng được nhiều bệnh viện chuyên khoa sâu, nhiều viện nghiên cứu, có sự tham gia của y tế ngoài công lập vào công tác chăm sóc sức khoẻ nhãn dân.
Tuy nhiên dưới lác động của nền kinh tè thị trường một số nơi, một số cơ sở khám chữa bệnh đã coi các dịch vụ chăm sóc sức khoè như là phương tiện để kinh doanh kiếm lời, một số cán bộ y tế không còn giữ được phẩm chất đạo dức của người thầy thuốc coi bệnh nhân là nơi dể kiếm tiền. Nền kình tế thị Irường cùng làm xuất hiện sự phân hoá giàu nghèo (dậc biệt ở nông thôn), những người có thu nhập cao thường có xu hướng tìm kiếm dịch vụ KCB chất lượng cao, vượt qua y tế luyến dưới dể đi tới các tuyến y lê' cao hơn. Còn những người nghèo hoàn cảnh kinh tế khó khăn thì việc tiếp cận và sừ dụng các dịch vụ y tế còn rất hạn chế. Thực trạng ở vòng nông thổn và miền núi phần lớn nhân dân có thu nhập bình quân đầu người rất thấp, vì vậy đã không có dủ khả nãng chì trả cho các dịch vụ y tế mồi khi bị ốm dau, bệnh lật [19], Nhà nước ta cũng đả tăng cường đầu tư qua các chương trình y tế, mặt khác tình hình kinh tế xà hội có nhiều thay đổi liến bỏ, đời sống của người dãn ngày càng được nấng cao, mổi quan hệ giữa người cung ứng và sử dụng dịch vụ theo phương 6 thức "bên chò" - "bèn nhặn" không còn tiếp tục như trước.
Song song với việc tồn tại theo phương thức có thu trong dịch vụ y tế hình thành một quan hệ phục vụ theo kiều cơ chế thị trường. Đó là quan hệ gĩửa một bên là " người bán' và một bên là "người muứ". Đến nay, mọi người đều cố quyền lựa chọn dịch vụ KCB như nhau, nhưng phâi trà liền. Nhà nước chỉ cung cấp các dịch vụ y tê' cơ bản cho những đối tượng chính sách, chương trình quốc gia như người nghèo, trẻ em, bệnh xã hội.
Khả năng lựa chọn dịch vụ y tế theo nhu cầu lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong dó điều kiện kinh tế, khoảng cách lới cơ sở y tế, các yếu tỏ' lập quán. Đây là vấn dề khó khăn đổi với người nghèo, vùng sâu và vùng xa. Sự mất công bằng trong tiếp cận với dịch vụ y té' giữa người giầu và người nghèo, nông thôn với thành thị, miền xuôi và miền núi.Do vậy vấn đề này chì có thể giải quyết thông qua hệ thống y tế công cộng. Để hạn chẽ' tình trạng mất công bàng trong việc cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoé, cách tốt nhâì là chúng ta phái triển mạng lưới y tê' cơ sở trỀn tất cả các mặt, trong đó đặc biệt chú ý tới y lê' xã và y tê' thôn.
Có như vậy chúng ta mới có thể đảm bảo được sự công bằng trong CSSK cho người dân và đáp ứng được nhiều hơn cho các đối tượng nghèo, vùng nghèo, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng gặp nhiều khó khăn (II]. Y tê' cơ sở là tuyển quan trọng nhất triển khai thực hiện CSSKBĐ. Tuyên ngôn Alma- Ata nãrn 1978 đã đưa ra 8 nội dung chủ yếu cùa CSSKBĐ. Đó là: 1- Giáo dục sức khỏe, 2- Dinh dưỡng và vệ sinh thực phẩm, 3- Cung cấp nước sạch và thanh khiết môi trường, 4- Bào vệ sức khóe bà mẹ trẻ em và kê' hoạch hóa gia đình, 5- TiÊm chủng mở rông phòng chống 6 bệnh trẽ em, 6- Phòng chống các bệnh dịch và bệnh xã hội, 7- Chữa bênh tại nhà và xử trí các vết thương thông thường, 8- Đàm bào thuộc thiết yen.
Việt Nam đã bổ sung thêm 2 nội dung là 9- Quản lý sức khỏe, 10- Kiện toàn mạng lưới y tè' cơ sở (30]. Có thể thấy rằng những nội dung CSSKBĐ nêu trên phải được thực hiện thõng qua mạng lưới y lê cơ sở, phải gán liền với y tế cơ sở. Củng có và hoàn thiện y tế cơ sớ có ý nghĩa chiến lược trong hệ thống y tẽ' nhà nước, góp phần quyết định sự thành công cùa CSSKBĐ. 7 Trong những năm qua, được sự quan lâm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước mạng ỉưới y tế cư sớ đã có những bước phát triển mạnh.
Nghị quyết lẫn thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII “ Vê' những vấn đề cấp bách trong sự nghiệp chăm sóc và bào vệ sức khoe' nhản dán ” ngày 14/11/1993 đã chỉ rõ “ Củng cốy tể cơ sở là nhiệm vụ cấp bách hiện nay của ngành y tế" [1]. Mục tiêu lâu dài của mạng lưới y tế cơ sở là: “Cồng với các ngành khác đàm bảo ngày một đầy đủ nhất các yèti cẩu vê phòng bệnh, chữa bệnh, bảo vệ sửc khoẻ, kéo dái tuổi thợ khoe’mạnh, nâng cao chất lượhg đời sống ”. Mạng lưới y tế cơ sở phải xuất phát từ nồng thôn, dào tạo nhân lực y tế từ đó quay về phục vụ nhân dân tại chỗ, gắn bó với đời sống nòng thôn, lớn mạnh và phát triển cùng với sự di lẽn cùa nông thôn [2][5L ỉ.2 Các tồn tại chủ yếu hiện nay trong hoạt dộng của hệ thống y tế cơ sở. Sự quá tài bệnh nhản cùa các bệnh viện tuyến Irên trong khi đó tuyến cơ sở hoạt động không hết khả nâng, hiện nay hầu hết các bệnh viện đều có công suất sử dụng giường bệnh vượt quá 100%.
Trọng số những bệnh nhân đó phần lớn chi cần điểu trị tại tuyến y tế cơ sở hoặc đáng lẽ không cần phải chuyển tuyến nếu dược phát hiện sớm và điều trị kịp thời tại y tế cơ sở. Điều đó chứng tò chất lượng hoạt động của y tế Cứ sở còn hạn chế, người dân còn thiếu tin tưởng và quan niệm sai lầm về công tác CSSK của y [ế cơ sở. Đa số các dịch vụ CSSK được thực hiỄn tại y tế xã nhưng đội ngũ cán bộ y tế xã còn thiếu, chưa đồng đểu giữa các khu vực, cơ cấu cán bộ y tế không cần đối, kinh phí hoạt động ít, năng lực cán bộ còn hạn chế. Nội dung phục vụ của cán bộ y tế cơ sở là CSSKBĐ, là y tế cõng cộng nhưng chương trình dào lạo còn chưa dáp ứng được yÊu cầu ưên.
Công tác dào tạo nói chung vãn lấy người bệnh là trung tâm, công tác khám chữa bệnh là chủ yếu, còn chưa quan tâm đến y tê công cộng. Lịch sử hình thành và phát triển cửa mạng lưới ỵ tè'thôn Việt Nam Trong lịch sử ngành Y tế Việt Nam, mạng lưới YTT đã được hình thành từ sau Cách mạng Tháng 8 vói những tên gọi khác nhau như: Vệ sinh viên (ở nông thôn), cứu thương (quân đội). Trong nền kinh tế tập trung bao cấp trước Khoán 10 trong nông nghiệp YTT gắn liền với hợp tác xã và đội sản xuất.