Chương 1: Khái quát chung về hệ thống chính trị Việt Nam hiện nay. Chương 2: Thực trạng tổ chức bộ máy và hoạt động của hệ thống chính trị tỉnh Thái Nguyên hiện nay. Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu lực, chất lượng của hệ thống chính trị ở tỉnh Thái Nguyên. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Khái niệm, chức năng, đặc điểm, cấu trúc của hệ thống chính trị Việt Nam 1.1 Khái niệm hệ thống chính trị Hệ thống chính trị là khái niệm hiện đại của chính trị học.
Trong lịch sử tư tưởng chính trị phương Đông và cả phương Tây không có khái niệm hệ thống chính trị. Nó chỉ xuất hiện trong nền chính trị hiện đại. Trước đây việc đưa ra các quyết định chính trị có tính quốc gia luôn thuộc thẩm quyền của bộ máy nhà nước mà tối cao là các hoàng đế, các nhà vua (chỉ trừ một số thời kỳ của Hy Lạp hay La Mã cổ đại tồn tại thể chế dân chủ cộng hòa, trong đó Nghị viện và đám đông nhân dân có tiếng nói quan trọng nhất định trong việc đưa ra các quyết định có tính quốc gia). Việc một cá nhân nào khác (tể tướng, thượng thư) có góp ý hoặc tác động tới một quyết định nào đó là có thể, song điều đó không mang tính thể chế, nghĩa là không phải là một điều bắt buộc có tính pháp lý.
Nói cách khác, các quyết định chính trị có tính quốc gia không phải là một sản phẩm của một hệ thống mà chủ yếu là sản phẩm của cá nhân người cai trị tối cao. Chính trị hiện đại, nói đúng hơn là chính trị thời tư bản chủ nghĩa, đã khác một cách căn bản, xét từ góc độ thể thức cai trị. Việc xuất hiện các đảng chính trị đại diện cho các giai cấp, các lực lượng xã hội khác nhau, xuất hiện các nhóm lợi ích, các tổ chức chính trị - xã hội…đấu tranh giành quyền lực nhà nước hoặc tham gia vào các quyết định chính trị của quốc gia đã làm cho nền chính trị dân chủ hơn. Các quyết định chính trị giờ đây là sản phẩm của hệ thống, là kết quả của một chu trình có tính thể chế, tính bắt buộc, không tùy thuộc riêng vào ý chí chủ quan của một cá nhân nào dù là người đứng đầu Nhà nước.
Do vậy, khi nghiên cứu chính trị hiện đại không thể dừng lại ở việc 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu hoạt động của nhà nước nói chung, của một cơ quan Nhà nước nào đó nói riêng, lại càng không thể chỉ dừng lại ở một cá nhân mà phải nghiên cứu vai trò, vị trí hay nói rộng hơn là nghiên cứu mối quan hệ của một hệ thống các chủ thể tham gia vào quá trình chính trị. Do vậy, có thể nói khái niệm hệ thống chính trị là sự phản ánh thực tiễn chính trị hiện đại. Nó là sản phẩm của nền chính trị vận động theo xu hướng dân chủ hóa. Nghiên cứu sự hoạt động của một hệ thống chính trị ở một quốc gia nào đó một mặt cho thấy quyền lực chính trị thuộc về ai, giai cấp nào , lực lượng nào, mặt khác cho thấy tính dân chủ của nền chính trị ở đó ra sao.
Đó chính là ý nghĩa của việc nghiên cứu hệ thống chính trị. Mục đích của việc đưa ra khái niệm hệ thống chính trị chính là vạch ra hệ thống các chủ thể (các tổ chức, các thiết chế) có quan hệ với nhau trong việc giành, giữ, thực thi quyền lực chính trị…Nói cách khác, nghiên cứu hệ thống chính trị thực chất là nghiên cứu hệ thống các tổ chức, thiết chế có quyền lực chính trị hoặc tham gia vào quyền lực chính trị. Vậy “hệ thống chính trị là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, bao gồm các tổ chức, các thiết chế có quan hệ với nhau về mặt mục đích, chức năng trong việc thực hiện hoặc tham gia thực hiện quyền lực chính trị, trong việc đưa ra các quyết định chính trị”[79 ,tr. Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hệ thống chính trị: Trong sách Triết học Mác – Lênin (chương trình cao cấp) hệ thống chính trị được hiểu là: “tổng thể các tổ chức chính trị của xã hội được chính thức thừa nhận về mặt pháp lý nhằm thực hiện quyền lực chính trị của xã hôi đó.
Hệ thống này bao gồm: nhà nước, các chính đảng, các nghiệp đoàn và các tổ chức chính trị xã hội khác, trong đó nhà nước là yếu tố cơ bản nhất”. Ở Việt Nam, khái niệm hệ thống chính trị được chính thức sử dụng trong các văn kiện Đảng từ Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI(3/1989) để thay thế cho khái niệm chuyên chính vô sản vẫn được 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dùng trước đổi mới (1986) với cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Theo đó hệ thống chính trị là một phạm trù thể hiện hình thức tổng quát nhất của chính trị và dân chủ, xác lập cơ chế thực hiện quyền lực chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” trong điều kiện xây dựng và vận hành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta [45, tr. Hệ thống chính trị ở nước ta là hệ thống các thiết chế chính trị được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, hiện nay là Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các đạo luật khác của Nhà nước ta.
Tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị nước ta được quy định bởi các nguyên tắc chủ yếu như tất cả quyền lực thuộc về nhân dân, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa.2 Chức năng của hệ thống chính trị Chức năng tổ chức và thực hiện quyền lực của nhân dân: Quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực chính trị của Nhà nước là những quyền lực phát sinh từ quyền lực của nhân dân, là sự ủy quyền của nhân dân. Trách nhiệm và quyền hạn cơ bản của hệ thống chính trị nói chung, của Đảng và Nhà nước nói riêng là thực hiện quyền lực được nhân dân ủy quyền. Do vậy mỗi thiết chế trong hệ thống chính trị chỉ tổ chức thực hiện quyền lực chính trị đúng trong phạm vi, giới hạn và tính chất của sự ủy quyền, trên cơ sở nguyên tắc đảm bảo toàn bộ quyền lực luôn thuộc về nhân dân. Chức năng tổ chức thực hiện quyền lực của nhân dân chính là hoạt động kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền lực.
Chức năng xây dựng và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc: Đại đoàn kết là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị bao gồm Đảng, chính quyền, Mặt trận tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, trong đó nhấn mạnh vai trò hạt nhân lãnh đạo là tổ chức Đảng. Tổ chức Đảng nằm trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc và hạt nhân lãnh đạo khối đại đoàn kết ấy. Để Đảng thực sự là hạt nhân 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lãnh đạo khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phải tiếp tục kiên trì thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đặc biệt là cần xây dựng những cơ chế cụ thể để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân động viên toàn dân tham gia xây dựng Đảng. Nhà nước có vai trò to lớn trong việc thực hiện đại đoàn kết toàn dân tốc không phải chỉ bằng việc thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật mà phải có trách nhiệm tổ chức thực hiện các chính sách pháp luật đó một cách có hiệu quả, thông qua bộ máy công quyền trong sạch, công tâm, hết lòng phục vụ nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân đóng vai trò đại diện cho lợi ích chung và lợi ích từng giai cấp, từng giới quần chúng, đồng thời là cầu nối giữa Đảng, chính quyền và nhân dân. Chức năng tổ chức dân chủ và đảm bảo dân chủ: Xét về tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị , dân chủ vừa là bản chất, vừa là mục tiêu. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 2011) khẳng định: “ Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực.
Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ công dân.
Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3 Đặc điểm của hệ thống chính trị Việt Nam Tính nhất nguyên và chỉ do một Đảng lãnh đạo: Tính nhất nguyên thể hiện ở chỗ chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh được coi là nền tảng tư tưởng chung cho cả hệ thống; chủ nghĩa xã hội là mục tiêu chung, không chấp nhận những khuynh hướng chính trị trái với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và trái với mục tiêu chủ nghĩa xã hội. Các thành viên của hệ thống chính trị do Đảng cộng sản lập ra có lịch sử đấu tranh vẻ vang, có vai trò to lớn trong sự nghiệp giải phóng và bảo vệ đất nước: Ở nhiều nước Đảng cộng sản không có mối liên hệ gì với các thành viên khác của hệ thống chính trị. Ngay cả một số nước xã hội chủ nghĩa trước đây, các tổ chức quần chúng có thể do Đảng cộng sản lập ra nhưng thiếu sự gắn bó về mặt lịch sử, nhiều tổ chức quần chúng không có bề dày đấu tranh chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.
Khác với các nước đó, ở Việt Nam các đoàn thể quần chúng đều do Đảng Cộng sản lập ra nhằm mục đích đấu tranh chống đế quốc, thực dân, giành độc lập dân tộc. Các thành viên của hệ thống chính trị gắn mình với sự nghiệp cao cả của Đảng và lịch sử hào hùng của dân tộc.