CHƯƠNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Trong nhiều thập niên trở lại đây, tái định cư trở thành vấn đề nổi cộm và là mối quan tâm chung của toàn xã hội. Các văn bản luật về tái định cư cũng bắt đầu xuất hiện nhiều và vấn đề tái định cư cũng trở thành chủ đề cho nhiều công trình nghiên cứu khoa học. Giai đoạn đầu, vấn đề tái định cư thường được đề cập đến như một mắt xích luôn đi cùng với việc giải tỏa, bồi thường, di dời.
Càng về sau này, tái định cư được nghiên cứu như một vấn đề độc lập nhưng vẫn được đặt trong mối liên quan với các chương trình giải tỏa, bồi thường, di dời. Có thể kể đến một số công trình đã nghiên cứu về tái định cư như: Các công trình nghiên cứu về tái định cư "Tái định cư bắt buộc” (Ngân hàng Phát triển châu Á,1995). Trong tài liệu này, tái định cư bắt buộc được xác định là chính sách đền bù và hỗ trợ ổn định lại cuộc sống. Mục tiêu đặt ra cho việc tái định cư là phải đảm bảo sau khi tái định cư, những người bị ảnh hưởng bởi dự án ít nhất đạt tới mức sống như họ lẽ ra có được nếu không có dự án.
Tác giả Khúc Thị Thanh Vân với đề tài: “Ảnh hưởng của chính sách tái định cư đến đời sống người dân sau tái định cư – Nghiên cứu trường hợp thủy điện Bản Vẽ”. Đề tài đã chỉ ra được những ảnh hưởng của chính sách tái định cư đối với cuộc sống sau tái định cư của những người dân phải di chuyển trong các dự án phát triển, nhất là trong vấn đề khôi phục lại cuộc sống; những tác động ảnh hưởng đến khả năng hòa nhập cộng đồng hoặc giữ gìn bản sắc văn hóa của nhóm cộng đồng dân tộc thiểu số phải di chuyển với cộng đồng tiếp nhận người tái định cư. Tác giả đi sâu phân tích các vấn đề liên quan đến chính sách tái định cư trước và sau năm 1993, các văn bản pháp quy liên quan đến ngành điện và khung chính sách về đền bù, tái định cư của dự án. Bên cạnh đó đề tài còn đề xuất những khuyến nghị cho việc lập chính sách hoặc bổ khuyết các hoạt động trong quá trình thực hiện xây dựng phương án tái định cư, chương trình khôi phục cuộc sống trong một dự án phát triển, nhất là dự án xây dựng đập thủy điện.
"Tình hình thực hiện chính sách đền bù, tái định cư và khôi phục cuộc sống cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án đầu tư phát triển tại các đô thị và khu 9 công nghiệp" (Trần Xuân Quang, Hà Nội, 8/1997). Đây là công trình đã khá thành công trong việc đưa ra những đánh giá có tính khái quát về tình hình thực hiện các chính sách đền bù, tái định cư cho những người dân bị ảnh hưởng bởi các dự án phát triển. "Chính sách di dân châu Á" (Dự án VIE/95/ 2004. Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, 1998).
Trong công trình này đã có nhiều bài viết đề cập ở những góc độ khác nhau của việc di dời, giải toả, di dân tái định cư. Cụ thể trong bài viết "Chính sách tái định cư do kết quả của sự phát triển cơ sở hạ tầng ở Việt Nam" (từ trang 180- 195), tác giả Trương Thị Ngọc Lan bàn đến thực trạng công tác tái định cư ở Việt Nam và tập trung trình bày những nội dung chính của các văn bản pháp lý liên quan đến đền bù và tái định cư ở nước ta. Nguyễn Thị Kim Dung : “Một số vấn đề xã hội nảy sinh trong quá trình tái định cư dân sống ven kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè”, Tp Hồ Chí Minh – 1999. Trong bước chuyển tiếp từ nhận đền bù đến việc tái tạo nơi cư trú mới tại căn hộ chung cư các hộ đã gặp khó khăn như trải qua thời kỳ ở nhà tạm cư, tình trạng vay nợ do tiền đền bù không đủ tiền mua nhà, một số thành viên trong gia đình phải tách khỏi hộ chung tìm nơi ở mới ngoài vùng dự án.
Tác giả cũng cho rằng chiều hướng giảm sút việc làm và thu nhập trong gia đình mới di dời và tái định cư là do chưa kết hợp chặt chẽ giữa tái định cư và tạo điều kiện để mưu sinh tái tạo cuộc sống trong điều kiện mới, phát triển xã hội trong cộng đồng dân cư. Việc xây dựng cơ cấu nhà ở và cơ cấu các khu tái định cư chưa chú ý nhiều đến đặc điểm mưu sinh của nhóm mục tiêu, làm suy giảm yếu tố sử dụng nguồn lao động và tạo việc làm. Nguồn thu nhập của bộ phận dân cư rất nghèo và phụ nữ vốn đã bị bấp bênh đang bị đe dọa. Việc xây dựng cơ cấu nhà ở và cơ cấu các khu tái định cư chưa được đồng bộ và chưa chú ý nhiều đến lợi ích của trẻ em, người già và phụ nữ.
Khả năng tái hội nhập của nhiều hộ đến nơi ở mới còn thấp và rất không đồng đều. "Tái định cư trong các dự án phát triển: chính sách và thực tiễn" (TS. Phạm Mộng Hoa - TS. Lâm Mai Lan, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2000).
Với công trình này, các tác giả đã tập trung trình bày nội dung của các Nghị định, Thông tư quy định về mặt pháp lý đối với việc đền bù, giải tỏa và trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị giải tỏa; đồng thời chỉ ra những khiếm khuyết và hạn chế của chính sách hiện hành trên cơ sở so sánh sự khác biệt giữa chính sách tái định cư của Việt 10 Nam với chính sách tái định cư của các tổ chức quốc tế. Ngoài ra, tác giả cũng đề xuất, kiến nghị, bổ sung và điều chỉnh những chính sách hiện hành, làm cho những chính sách này phù hợp với yêu cầu thực tiễn. “Nghiên cứu thực trạng và các chính sách giải pháp, biện pháp trong việc bồi thường giải tỏa và tái định cư trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình thực hiện quy hoạch pháp triển kinh tế xã hội Thành phố”, (Phạm Xuân Bình, 2000) đề cập đến một số vấn đề sau: thực trạng (bao gồm: thực trạng công tác quy hoạch ở Thành phố Hồ Chí Minh, thực trạng công tác giải tỏa bồi thường, thực trạng về giải quyết định cư, việc làm và đời sống); nguyên tắc chung của bồi thường giải tỏa; giá bồi thường đất và nhà; những giải pháp về tổ chức định cư; Một số chính sách về tái định cư; giải quyết việc làm các đối tượng bị giải tỏa; các giải pháp về quản lý. “Vệ sinh môi trường và điều kiện sống của người tái định cư ở Thành phố Hồ Chí Minh”, (Võ Hưng, 2003).
Đề tài đã tiến hành nghiên cứu (theo 2 nhóm tái định cư ở chung cư và tái định cư tự chọn) điều kiện sống cơ bản của người tái định cư (nhà ở, diện tích cấu trúc nhà ở, việc làm, thu nhập, mức sống thực tế), nghiên cứu các điều kiện sinh hoạt (cơ sở hạ tầng, điện nước, chất thải, tiện nghi sinh hoạt, sinh hoạt hàng ngày, việc đi lại, học hành), nghiên cứu những biến đổi trong đời sống sinh hoạt (tiện nghi sinh hoạt, điều kiện sinh hoạt, vệ sinh môi trường, mức độ hưởng thụ văn hóa, vấn đề an sinh xã hội), nghiên cứu sức khỏe và bệnh tật (triệu chứng thông thường, triệu chứng liên quan đến môi trường, việc khám và chữa bệnh) và đã đánh giá chung về môi trường và điều kiện sống (đối với những người tái định cư ở chung cư thì cuộc sống hiện tại là tốt 44% và rất tốt 20,3%). Như vậy những dự án đó đã thành công. Đề tài đã phân tích những điều kiện sống trong mối tương quan với quyết định lựa chọn nơi tái định cư. “Đời sống xã hội của người dân thuộc diện Tái định cư ở Thành phố Hồ Chí Minh: Thực trạng và giải pháp” (Phan Huy Xu, 2005).
Đề tài đã nêu lên một số cơ sở lý luận và thực trạng đời sống xã hội của người dân tái định cư có phân theo các nhóm dân theo và không theo chương trình và một số giải pháp và khuyến nghị chung. “Thực trạng đời sống kinh tế xã hội các hộ gia đình sau tái định cư: vấn đề, giải pháp”, (Lê Văn Thành, 2006). Đề tài đề cập đến những khuyến cáo của các tổ 11 chức quốc tế về hậu tái định cư cũng như các chi phí vô hình trong suốt quá trình tái định cư. Qua khảo sát định lượng, đề tài đã phân tích và đánh giá sự biến đổi các đặc điểm kinh tế xã hội của các hộ gia đình tái định cư nói chung (ở tất cả các hình thức: hộ nhận chung cư, nhận nền đất, tạm cư và tiền tự lo) ở một vài dự án lớn triển khai trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Sự biến đổi được xét trên các khía cạnh thu nhập, điều kiện nhà ở, giáo dục, y tế văn hóa, tiếp cận các dịch vụ xã hội, quan hệ xã hội của các hộ dân trước và sau khi tái định cư. Ở khía cạnh sinh kế, biểu hiện là việc làm, thu nhập, đề tài cũng đã đề cập đến những khó khăn về việc làm mà người dân gặp phải. Cụ thể là bên cạnh các tổn hại vật chất thì người dân còn gặp thêm rất nhiều những tổn hại “phi vật chất”, những chi phí “vô hình”. Như việc người dân phải về lại nơi ở cũ để làm ăn, khó xin việc ở nơi mới, công ăn việc làm thiếu ổn định, thu nhập bị giảm nhưng lại phát sinh thêm nhiều khoản chi tiêu hơn so với trước đây.
Tác giả cũng đưa ra kết quả nghiên cứu là phần lớn người dân cho rằng cuộc sống và công việc của họ “như hiện nay là được rồi” (40.7% là có một vài ý tưởng tạo thêm hay chuyển đổi việc làm, 27% là không có ý tưởng gì về công ăn việc làm trong tương lai. Các bài báo khoa học “Một số vấn đề xã hội học hàng đầu của việc cải tạo- chỉnh trang đô thị: giảm tổn thương cho nhóm dân cư nghèo nhất” của Nguyễn Quang Vinh đăng trên tạp chí Xã hội học, số 1- 2001. Đây là một nghiên cứu Xã hội học về sự ảnh hưởng của các dự án cải tạo – Chỉnh trang đô thị đến việc làm và mức sống của nhóm dân cư nghèo ở TP. Hồ Chí Minh.
Cách tiếp cận của tác giả đã gợi mở ra những hướng nghiên cứu rất bổ ích về đề tài biến đổi mức sống của nhóm dân cư bị ảnh hưởng bởi quá trình đô thị hoá.