Tổng quan nghiên cứu
Thực trạng dinh dưỡng của sinh viên ngành khoa học sức khỏe là một chỉ dấu then chốt phản ánh sức khỏe học đường và khả năng đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp trong tương lai. Nghiên cứu thực hiện trên 2710 sinh viên điều dưỡng tại Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội năm 2025 cho thấy gánh nặng kép về dinh dưỡng đang hiện hữu rõ nét. Với đặc thù đào tạo kết hợp chặt chẽ giữa học lý thuyết trên giảng đường và thực hành lâm sàng liên tục tại các bệnh viện, sinh viên điều dưỡng thường xuyên đối mặt với áp lực học tập cao, giờ giấc sinh hoạt xáo trộn và ca trực đêm kéo dài. Những yếu tố này trực tiếp dẫn đến chế độ ăn uống thất thường và gia tăng nguy cơ suy giảm thể lực.
Mục tiêu cụ thể của luận văn là đánh giá toàn diện thực trạng dinh dưỡng của sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội năm 2025 dựa trên chỉ số khối cơ thể, đồng thời xác định các yếu tố nhân khẩu học, gia đình, kinh tế và thực hành có liên quan mật thiết đến tình trạng thiếu năng lượng trường diễn cũng như thừa cân, béo phì. Phạm vi nghiên cứu được triển khai từ tháng 08 năm 2024 đến tháng 08 năm 2025 tại toàn bộ các cơ sở đào tạo của nhà trường. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp hệ thống số liệu dịch tễ học tin cậy, chỉ ra tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn ở mức 21,8% và tỷ lệ thừa cân, béo phì chiếm 10,5%. Đây là căn cứ khoa học vững chắc giúp các nhà quản lý giáo dục y tế và y tế công cộng xây dựng các mô hình can thiệp dinh dưỡng học đường có mục tiêu, góp phần bảo vệ sức khỏe cho đội ngũ điều dưỡng viên tương lai.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu ứng dụng chuẩn phân loại tình trạng dinh dưỡng của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2006) dành riêng cho người trưởng thành dựa trên chỉ số khối cơ thể (BMI). Thang đo phân định rõ ràng các ngưỡng chẩn đoán: chỉ số BMI dưới 18,5 kg/m² xác định tình trạng thiếu năng lượng trường diễn, từ 18,50 đến 24,99 kg/m² là thể trạng bình thường, và từ 25,00 kg/m² trở lên biểu thị thừa cân hoặc béo phì. Trong nhóm thiếu năng lượng trường diễn, tiêu chuẩn tiếp tục chia thành độ 1 (17,00 đến 18,49 kg/m²), độ 2 (16,00 đến 16,99 kg/m²) và độ 3 (dưới 16,00 kg/m²). Đối với thừa cân béo phì, thang đo phân tách tiền béo phì (25,00 đến 29,99 kg/m²) và ba cấp độ béo phì tương ứng.
Bên cạnh đó, đề tài vận dụng mô hình hành vi sức khỏe Kiến thức - Thái độ - Thực hành (KAP) để đánh giá sự hiểu biết, quan điểm nhận thức và hành vi dinh dưỡng thực tế của đối tượng. Ba khái niệm trung tâm bao gồm: dinh dưỡng hợp lý là sự cung cấp đầy đủ và cân đối các chất dinh dưỡng duy trì chức năng sinh lý; thiếu năng lượng trường diễn là tình trạng mất cân bằng kéo dài giữa năng lượng nạp vào và năng lượng tiêu hao dẫn đến cạn kiệt nguồn dự trữ cơ thể; và béo phì là sự tích tụ mỡ bất thường ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tim mạch và chuyển hóa.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang, tiến hành thu thập dữ liệu trong mốc thời gian từ tháng 08 năm 2024 đến tháng 08 năm 2025. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 2710 sinh viên chính quy ngành điều dưỡng tại Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội, phân bổ qua ba khóa đào tạo: Khóa 17 với 715 sinh viên, Khóa 18 với 978 sinh viên và Khóa 19 với 1017 sinh viên. Việc lựa chọn phương pháp chọn mẫu chủ đích toàn bộ quần thể thay vì lấy mẫu xác suất ngẫu nhiên giúp hạn chế tối đa sai số chọn mẫu, phản ánh bức tranh toàn cảnh và chính xác nhất về thể trạng của sinh viên điều dưỡng tại nhà trường.
Dữ liệu nhân trắc học được đo lường trực tiếp thông qua cân điện tử SECA của Nhật Bản với độ chính xác 0,1 kg và thước đo chiều cao đứng chuẩn UNICEF có độ chia chính xác 1 mm. Mỗi đối tượng được đo lặp lại hai lần độc lập để lấy giá trị trung bình. Dữ liệu xã hội học và chỉ số KAP được thu thập bằng bộ câu hỏi phỏng vấn chuẩn hóa đã qua kiểm định thử nghiệm. Số liệu sau đó được làm sạch, nhập liệu trên phần mềm EpiData 3.1 và phân tích bằng phần mềm SPSS 26.0. Nghiên cứu áp dụng kiểm định Chi bình phương để so sánh tỷ lệ đơn biến và mô hình hồi quy đa biến logistic nhằm xác định các yếu tố nguy cơ độc lập thông qua tỷ số chênh OR và khoảng tin cậy 95% CI, giúp kiểm soát triệt để các biến gây nhiễu tiềm ẩn.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, nghiên cứu ghi nhận sự tồn tại song hành của gánh nặng dinh dưỡng kép. Tỷ lệ sinh viên có thể trạng bình thường đạt 67,7% (1835 người). Tuy nhiên, tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn chiếm tới 21,8% (591 người), chủ yếu là mức độ nhẹ với độ 1 chiếm 15,1%, độ 2 chiếm 5,2% và độ 3 chiếm 1,5%. Đồng thời, tỷ lệ thừa cân, béo phì được xác định là 10,5% (284 người), trong đó thừa cân chiếm 8,8% và béo phì chiếm 1,7%.
Thứ hai, có sự khác biệt rõ rệt về nhân trắc học và phân bố nguy cơ theo giới tính. Cân nặng trung bình của sinh viên nam đạt 61,77 ± 11,05 kg, cao hơn nhiều so với nữ giới là 51,63 ± 8,12 kg. Chiều cao trung bình nam giới đạt 169,84 ± 6,31 cm so với nữ giới là 158,10 ± 5,27 cm. Chỉ số BMI trung bình chung là 20,75 ± 3,07 kg/m², trong đó nam giới đạt 21,38 ± 3,41 kg/m², cao hơn nữ giới là 20,64 ± 2,99 kg/m² (p < 0,05). Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở nam sinh viên là 13,4%, cao hơn nữ sinh viên là 10,0% với sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.
Thứ ba, khoảng trống lớn tồn tại giữa nhận thức và thực hành dinh dưỡng (KAP). Về phòng chống thiếu năng lượng trường diễn, có tới 94,7% sinh viên thể hiện thái độ đúng, nhưng tỷ lệ kiến thức tốt chỉ đạt 49,2% và thực hành tốt chỉ vỏn vẹn 37,7%. Đối với phòng chống thừa cân béo phì, dù 88,0% có thái độ đúng và 63,6% có kiến thức tốt, tỷ lệ thực hành đúng chỉ đạt 27,4%.
Thứ tư, mô hình hồi quy đa biến logistic đã nhận diện các yếu tố nguy cơ độc lập. Nguy cơ thiếu năng lượng trường diễn tăng cao ở nhóm sinh viên có phụ huynh làm ruộng (OR = 1,23; 95% CI: 1,01 - 1,49; p = 0,036), nhóm có kiến thức kém (OR = 1,20; p = 0,048) và nhóm có thực hành kém (OR = 1,26; 95% CI: 1,04 - 1,53; p = 0,018). Ngược lại, nguy cơ thừa cân béo phì tăng mạnh nhất ở nhóm có tiền sử gia đình bị thừa cân béo phì (OR = 2,44; 95% CI: 1,72 - 3,47; p = 0,0001), sinh viên nam (OR = 1,42; p = 0,036), gia đình có thu nhập trên 5 triệu đồng/tháng (OR = 1,36; p = 0,045) và nhóm thực hành dinh dưỡng không tốt (OR = 1,54; p = 0,006).
Thảo luận kết quả
Trong công trình nghiên cứu, dữ liệu dịch tễ được minh họa trực quan thông qua hệ thống biểu đồ cột kép so sánh tỷ lệ phân hạng BMI theo từng giới tính và bảng tương quan chéo đa biến. Cách thức trực quan hóa này làm nổi bật sự chênh lệch thể trạng giữa nam và nữ, đồng thời phơi bày tương quan giữa các yếu tố xã hội với nguy cơ chuyển hóa.
Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng trên bắt nguồn từ lịch trực lâm sàng dày đặc, môi trường áp lực cao khiến sinh viên thường xuyên bỏ bữa sáng hoặc tiêu thụ thực phẩm nhanh giàu năng lượng vào ban đêm. Khi so sánh với các công trình y học khác, tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn 21,8% tại trường tương đương với sinh viên Cao đẳng Quân Y năm 2022 (21,3%), thấp hơn đáng kể so với sinh viên năm nhất Đại học Y Hà Nội năm 2021 (31,0%) và Cao đẳng Y tế Cần Thơ năm 2020 (38,8%). Mặt khác, tỷ lệ thừa cân béo phì 10,5% lại cao hơn mức 3,75% ở sinh viên Đại học Nông Lâm Thành phố Hồ Chí Minh năm 2019 và 8,4% tại Đại học Y Dược Thái Bình năm 2023. Kết quả này phản ánh tác động mạnh mẽ của lối sống đô thị hóa tại thủ đô Hà Nội, đòi hỏi những can thiệp hành vi cấp thiết.
Đề xuất và khuyến nghị
Thứ nhất, chuẩn hóa chất lượng suất ăn và môi trường dinh dưỡng tại căng tin trường học. Ban Giám hiệu cùng Bộ phận Quản trị đời sống cần xây dựng bộ thực đơn mẫu đáp ứng chuẩn dinh dưỡng khuyến nghị, kiểm soát lượng chất béo bão hòa và đường tinh luyện. Mục tiêu hành động là đạt trên 80% sinh viên được tiếp cận các bữa ăn cân đối vi chất với mức giá trợ cấp hợp lý trước quý 4 năm 2025.
Thứ hai, triển khai chương trình truyền thông chuyển đổi hành vi dinh dưỡng thực hành. Khoa Y tế Công cộng phối hợp cùng Đoàn Thanh niên tổ chức các buổi tập huấn chuyên sâu về kỹ năng tự chuẩn bị khẩu phần, phân bổ thời gian ăn uống khi đi trực bệnh viện và cách đọc nhãn thực phẩm. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ sinh viên có thực hành dinh dưỡng đạt chuẩn từ 27,4% lên trên 60% trong vòng 12 tháng tới.
Thứ ba, thiết lập hệ thống tầm soát thể trạng định kỳ và tư vấn cá thể hóa. Trạm Y tế nhà trường chủ trì tổ chức khám sức khỏe, đo đạc chỉ số khối cơ thể 6 tháng một lần cho 100% sinh viên toàn trường, lập hồ sơ quản lý sức khỏe cá nhân cho 591 sinh viên thiếu năng lượng trường diễn và 284 sinh viên thừa cân béo phì từ học kỳ 1 năm học 2025 - 2026. Phấn đấu giảm tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn từ 21,8% xuống dưới 15% vào năm 2027.
Thứ tư, đẩy mạnh phong trào rèn luyện thể lực và hoạt động thể chất học đường. Nhà trường cần đầu tư nâng cấp hạ tầng sân bãi thể thao, phát động phong trào vận động thể lực tối thiểu 30 phút mỗi ngày và ít nhất 4 ngày mỗi tuần theo khuyến cáo quốc tế. Ban Chấp hành Đoàn trường thành lập các câu lạc bộ thể thao nhằm thu hút đông đảo sinh viên tham gia, hướng tới mục tiêu hạ tỷ lệ thừa cân ở nam sinh viên từ 13,4% xuống dưới 9% trước năm 2026.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Thứ nhất, Ban Giám hiệu và Trạm Y tế tại các trường đại học, cao đẳng y dược trên toàn quốc. Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm quy mô lớn với 2710 đối tượng, giúp nhà trường hoạch định chính sách chăm sóc sức khỏe học đường, bố trí ca trực bệnh viện khoa học và nâng cấp dịch vụ căng tin sinh viên.
Thứ hai, cán bộ nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Y học dự phòng, Y tế công cộng và Dinh dưỡng học. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp điều tra cắt ngang chuẩn mực, kỹ thuật khống chế sai số đo lường nhân trắc học và cách thức ứng dụng mô hình hồi quy đa biến logistic xử lý dữ liệu phức hợp.
Thứ ba, sinh viên điều dưỡng và sinh viên các ngành khoa học sức khỏe. Công trình giúp sinh viên nhận thức rõ những nguy cơ sức khỏe tiềm ẩn do áp lực học tập và ca trực đêm gây ra, từ đó nâng cao ý thức tự chăm sóc, duy trì chỉ số cân nặng lý tưởng và rèn luyện thể chất thường xuyên.
Thứ tư, các nhà hoạch định chính sách y tế và cơ quan quản lý giáo dục chuyên nghiệp. Số liệu từ đề tài mang lại góc nhìn đa chiều về gánh nặng dinh dưỡng hai chiều tại đô thị, làm cơ sở xây dựng các chương trình can thiệp dinh dưỡng thanh thiếu niên cấp quốc gia.
Câu hỏi thường gặp
Tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn và thừa cân béo phì ở sinh viên điều dưỡng trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Khảo sát trên 2710 sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội cho thấy tỷ lệ thiếu năng lượng trường diễn chiếm 21,8% (trong đó gầy độ 1 là 15,1%, độ 2 là 5,2%, độ 3 là 1,5%). Tỷ lệ thừa cân, béo phì chiếm 10,5% (trong đó thừa cân chiếm 8,8% và béo phì chiếm 1,7%), minh chứng cho thách thức dinh dưỡng kép.
Yếu tố nào có mối liên quan mạnh mẽ nhất đến tình trạng thừa cân, béo phì của sinh viên?
Yếu tố gia đình có người bị thừa cân, béo phì làm tăng nguy cơ mắc thừa cân, béo phì ở sinh viên lên gấp 2,44 lần (OR = 2,44; khoảng tin cậy 95% từ 1,72 đến 3,47; p = 0,0001). Ngoài ra, giới tính nam (OR = 1,42) và thực hành dinh dưỡng không tốt (OR = 1,54) cũng là những yếu tố nguy cơ độc lập quan trọng.
Vì sao sinh viên có thái độ dinh dưỡng rất tích cực nhưng tỷ lệ thực hành tốt lại ở mức thấp?
Mặc dù có tới 88,0% đến 94,7% sinh viên có thái độ đúng, tỷ lệ thực hành tốt chỉ đạt 27,4% đến 37,7%. Nguyên nhân do sinh viên y khoa chịu áp lực học tập nặng nề, lịch trực đêm thất thường và chi phí sinh hoạt eo hẹp, tạo rào cản lớn trong việc duy trì bữa ăn lành mạnh và thói quen thể dục.
Thu nhập gia đình ảnh hưởng như thế nào đến thực trạng dinh dưỡng của sinh viên?
Kết quả phân tích hồi quy logistic chỉ ra sinh viên thuộc các gia đình có mức thu nhập trên 5 triệu đồng/người/tháng có nguy cơ thừa cân, béo phì cao gấp 1,36 lần (OR = 1,36; khoảng tin cậy 95% từ 1,01 đến 1,83; p = 0,045) so với nhóm thu nhập từ 5 triệu đồng trở xuống, do điều kiện kinh tế giúp sinh viên dễ tiếp cận các thực phẩm giàu năng lượng.
Sai số đo lường trong nghiên cứu được kiểm soát chặt chẽ như thế nào?
Nghiên cứu sử dụng cân điện tử SECA Nhật Bản độ chính xác 0,1 kg và thước đo chiều cao UNICEF độ chia 1 mm. Mỗi sinh viên được đo lặp lại hai lần lấy giá trị trung bình. Toàn bộ cán bộ thu thập số liệu được tập huấn kỹ thuật chuẩn hóa và bộ câu hỏi được phỏng vấn thử nghiệm trước khi triển khai chính thức.
Kết luận
- Khảo sát thực chứng toàn diện trên cỡ mẫu 2710 sinh viên điều dưỡng Trường Cao đẳng Y tế Hà Nội thuộc ba khóa học liên tiếp.
- Phát hiện thách thức dinh dưỡng kép với 21,8% sinh viên bị thiếu năng lượng trường diễn và 10,5% sinh viên gặp tình trạng thừa cân, béo phì.
- Nhận diện khoảng cách lớn giữa nhận thức và thực tế khi thái độ đúng đạt trên 88%, song tỷ lệ thực hành dinh dưỡng tốt chỉ đạt 27,4% đến 37,7%.
- Xác định các yếu tố nguy cơ độc lập then chốt qua mô hình hồi quy logistic bao gồm nghề nghiệp phụ huynh, tiền sử béo phì gia đình (OR = 2,44), giới tính nam và thực hành dinh dưỡng kém.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp can thiệp đồng bộ từ cải thiện căng tin, truyền thông hành vi đến tư vấn cá thể hóa và rèn luyện thể chất.
Công trình của tác giả Quản Thị Ngát là đề án tốt nghiệp Thạc sĩ Y học dự phòng chất lượng cao, đóng góp hệ thống số liệu dịch tễ học thực chứng quý giá cho công tác y tế học đường. Lộ trình tiếp theo đòi hỏi nhà trường triển khai ngay các giải pháp can thiệp hành vi từ quý 4 năm 2025, định kỳ đánh giá hiệu quả vào cuối năm 2026. Lãnh đạo các cơ sở đào tạo y tế và các nhà nghiên cứu hãy chung tay ứng dụng các khuyến nghị này nhằm nâng cao thể lực và sức khỏe toàn diện cho đội ngũ cán bộ điều dưỡng tương lai.