Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CHO HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Thế giới Thuật ngữ: “Giáo dục môi trường” đã được sử dụng từ rất sớm, năm 1948 tại Pari trong cuộc họp của Liên Hiệp Quốc về bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên. Từ những năm 1960 con người đã ý thức được về những ảnh hưởng có hại của mình đối với môi trường sống.
Trong tuyên bố của Hội nghị của Liên Hiệp Quốc về “Môi trường và con người” tổ chức tại Stockhom Thụy Điển từ ngày 5 - 6/6/1972 nguyên tắc 19 đã nêu rõ “Việc giáo dục môi trường cho thế hệ trẻ cũng như người lớn làm sao để họ có được trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường và cải thiện môi trường”. Thể hiện sự tiến bộ của những nhận thức của con người đối với môi trường và cũng từ đó ngày mùng 5 tháng 6 được lấy làm “Ngày môi trường thế giới” hàng năm. Ở nhiều quốc gia trên thế giới GDMT được đưa vào dạy ở hệ thống các trường phổ thông ngay từ những năm đầu của thập kỉ 70 như: Mỹ, Mehicô, Liên Xô cũ, chủ đề môi trường được lồng ghép vào các môn học có liên quan đến môi trường như: sinh học, địa lý, hoá học, giáo dục công dân, đạo đức, thẩm mỹ…. Trong các nước ASEAN, Brunei, Indonexia, Thái Lan là những nước đưa giáo dục môi trường một cách có hệ thống vào các bậc trung học cơ sở, trung học phổ thông, còn lại chủ yếu là lồng ghép vào các môn học truyền thống về tự nhiên và xã hội.
Những năm 1960 giáo dục bảo vệ môi trường ở Nhật Bản được bắt đầu bằng việc chống ô nhiễm môi trường và BVMT tự nhiên. Đến cuối những năm 1980, ý thức được tầm quan trọng của MT với đời sống con người GDMT thực sự đã có chỗ đứng trong nền giáo dục Nhật Bản. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Cho đến nay GDMT đã phát triển mạnh mẽ ở tất cả các châu lục, các quốc gia, nhiều thông điệp và những cuốn sáchvề BVMT được đưa ra mỗi năm: Jay Withgot, Matthew Laposata (2011), Môi trường cần thiết (Essential Environment), Gregory M.Haul, PhD and Tom William (2013), Môi trường 24/7 (Environment 24/7), Joana Yarrow, 1001 cách bảo vệ trái đất (1001 ways to save the earth), hay tác giả Diane Gow Mc.Dilda với 365 cách sống xanh (365 ways to live Green). nhằm cứu vãn sự suy thoái môi trường thế giới ngày càng trở nên bức thiết.
Từ kinh nghiệm của nhiều quốc gia trên thế giới cho thấy vai trò của nhà trường hết sức quan trọng đối với GDMT ở tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân.Việt Nam Ở Việt Nam phong trào trồng cây xanh cải tạo môi trường được phát triển rộng rãi kể từ năm 1962, sau khi Bác Hồ khai sinh ra “Tết trồng cây”. Sau đó, những năm 1980 đã có nhiều tác giả nghiên cứu về giáo dục môi trường và BVMT cho các nhà trường: Hoàng Đức Nhuận “Về giáo dục môi trường trong các môn học ở trường Phổ thông” (1982), Nguyễn Dược với “Giáo dục bảo vệ môi trường trong nhà trường Phổ thông” (1986)… Đảng và nhà nước ta cũng như các cấp, các ngành đã quan tâm đến công tác GDMT cụ thể là nhiều chủ trương chính sách về BVMT đã được ban hành: Luật BVMT đã được thông qua tháng 12 năm 1993. Chỉ thị số 36/1998/CT-TW của bộ chính trị ngày 25 tháng 6 năm 1998 trong số 8 giải pháp được nêu ra thì giải pháp đầu tiên là thường xuyên giáo dục, tuyên truyền, xây dựng thói quen, nếp sống và các phong trào quần chúng bảo vệ môi trường. Đưa các nội dung bảo vệ môi trường vào chương trình giáo dục của tất cả các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Đề án 1363/QĐ-TTg đã được Chính phủ phê duyệt ngày 17 tháng 10 năm 2001 về việc đưa các nội dung GDMT vào hệ thống giáo dục quốc dân với mục tiêu giáo dục học sinh, sinh viên có hiểu biết về chính sách pháp luật của Đảng và nhà nước về BVMT, có kiến thức về môi trường để tự giác thực hiện BVMT đồng thời đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ giảng dạy, GV, cán bộ nghiên cứu khoa học công nghệ và CBQL về BVMT. Quyết định số 6621/QĐ-BGDĐT-KHCN ngày 30 tháng 12 năm 2002 của Bộ giáo dục đào tạo cũng đã đề cập đến GDMT trong trường phổ thông giai đoạn 2001-2010. Ngoài ra rất nhiều các dự án lớn nhỏ trong nước và quốc tế, nhiều chiến dịch BVMT cũng đã được triển khai ở nhiều địa phương trên khắp cả nước. Con người cần nhận thức và thay đổi cách cư xử của mình với thiên nhiên để tồn tại và phát triển bền vững đồng thời cần kết hợp lợi ích cá nhân với lợi ích của cộng đồng để nâng cao chất lượng cuộc sống.
GDMT gồm hai phạm vi chủ yếu: Giáo dục trong nhà trường và giáo dục ngoài cộng đồng. Hai lĩnh vực này không thể tách rời nhau mà phải kết hợp chặt chẽ, bổ sung cho nhau. GDMT ở Việt Nam được đưa vào theo phương thức lồng ghép với các môn học tự nhiên và xã hội, sau Cải cách giáo dục (năm 1986-1992) nội dung GDMT đã được chú trọng đưa vào giảng dạy cho học sinh ở các trường phổ thông ở một số môn học: Sinh, Địa, Khoa học… Trong chương trình giáo dục tiểu học hiện nay GDMT được tích hợp lồng ghép ở nhiều môn học văn hóa ở trên lớp và được tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ học. GDMT là một bộ phận quan trọng trong hoạt động GD phổ thông góp phần thực hiện mục tiêu GD.
Nó là cầu nối giữa các môn học với hoạt động GD, là điều kiện và phương tiện để phát huy sức mạnh cộng đồng cùng tham gia vào sự phát triển của nhà trường và vào sự nghiệp GD. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com GDMT giúp HS có thêm hiểu biết về tự nhiên xã hội, con người, rèn luyện cho HS phẩm chất, nhân cách, hình thành các mối quan hệ giữa con người với đời sống xã hội, với thiên nhiên và với MT sống. GDMT giúp nhà trường phát huy vai trò của GV trong công tác tổ chức, tuyên truyền, huy động các lực lượng trong và ngoài nhà trường, cộng đồng xã hội tham gia vào công tác GD. Vấn đề GDMT đã được đề cập trong một số luận văn thạc sĩ nhưng chủ yếu về hoạt động quản lý của HT các trường THCS, THPT như: - Tác giả Nguyễn Văn Tâm với luận văn: Một số biện pháp quản lý hoạt động giáo dục môi trường ở các trường THPT huyện Thạch Thất tỉnh Hà Tây (2005).
- Tác giả Nguyễn Tý với luận văn: Biện pháp quản lý công tác giáo dục môi trường ở các trường THCS trên địa bàn quận Thanh Khê Thành phố Đà Nẵng (2012). Chúng tôi sẽ nghiên cứu về QL GDMT của người hiệu trưởng trên một đối tượng khác là HS tiểu học ở các trường ven biển thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới GD phù hợp với điều kiện hiện nay ở địa phương. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Môi trường, giáo dục môi trường cho học sinh Tiểu học 1.
Môi trường Khái niệm về môi trường được trình bày trong Luật BVMT đã được Quốc hội thông qua tháng 12 năm 1993: “Môi trường gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người, thiên nhiên”. “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [11]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Theo UNEP định nghĩa: “Môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế xã hội, tác động lên từng cá thể hay cả cộng đồng” [dẫn theo 45]. Còn định nghĩa của UNESCO (1981): “Môi trường sống của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra, trong đó con người sống và bằng lao động của mình, khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên và nhân tạo thỏa mãn nhu cầu của con người” [dẫn theo 45].
Môi trường bao gồm tất cả những gì bao quanh sinh vật, tất cả các yếu tố vô sinh và hữu sinh có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sống, sự phát triển và sinh sản của sinh vật và được hiểu là tập hợp các yếu tố tự nhiên: không khí, ánh sáng mặt trời, núi rừng, sông suối. môi trường xã hội trực tiếp liên quan đến chất lượng cuộc sống con người: các mối quan hệ, các tổ chức, đoàn thể., môi trường nhân tạo gồm các yếu tố do con người tạo nên: những tiện nghi trong cuộc sống, nơi ở, làng mạc, thành phố. có mối quan hệ chặt chẽ mật thiết có tác động qua lại với con người, ảnh hưởng đến sự tồn tại, phát triển của con người, làm cho cuộc sống của con người thêm phong phú. Môi trường là không gian sinh tồn của con người.
Giống như mọi sinh vật khác, để tồn tại và phát triển về mặt sinh lý, tâm lý và tinh thần con người cần có một không gian sống với những yêu cầu nhất định về chất và lượng của nó [28]. Tóm lại: Môi trường là tất cả những gì có xung quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển. Môi trường luôn biến động dưới sự tác động tiến hóa của tự nhiên và hoạt động của các sinh vật, trong đó có con người đang có tác động mạnh nhất. Con người không thể giữ MT nguyên dạng nhưng phải bảo vệ ba chức năng của MT là: không gian sinh tồn, nơi cung cấp tài nguyên và nơi chứa đựng và xử lý chất thải.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.vn download by : skknchat@gmail. Giáo dục môi trường cho HS TH Giáo dục môi trường cho học sinh TH là một quá trình thường xuyên thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp các em có ý thức, sự hiểu biết về MT từ đó hình thành thái độ, tình cảm ý thức trách nhiệm với MT và vận dụng những kiến thức và kỹ năng vào gìn giữ, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế hệ hiện tại và tương lai.