Lời mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Danh mục bảng biểu và Danh mục các từ viết tắt, kết cấu chính của đề tài nghiên cứu gồm ba chƣơng: CHƢƠNG 1: Lý thuyết chung về bộ ba bất khả thi. Giới thiệu tổng quan về cơ sở lý luận của bộ ba bất khả thi, tập hợp nhiều phân tích, nghiên cứu hàn lâm của nhiều tác giả trên thế giới để phục vụ cho mục đích nghiên cứu của khóa luận CHƢƠNG 2: Đánh gia công tác điều hành chính sách vĩ mô của Việt Nam dƣới góc độ bộ ba bất khả thi từ khi Đổi mới đến nay. Trình bày thực trạng nền kinh tế và những giải pháp của Chính phủ trong việc bình ổn nền kinh tế, theo đuổi mục tiêu tăng trƣởng bền vững. Ngoài ra, chƣơng này sẽ cho thấy những thay đổi trong quan điểm hội nhập kinh tế và các biện pháp ứng biến của nhà hoạch định chính sách trong tình hình mới.
CHƢƠNG 3: Giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô dƣới góc độ bộ ba bất khả thi. Chƣơng này trình bày góc nhìn của tác giả về định hƣớng chính sách. Các nhóm giải pháp chủ đạo và hỗ trợ đƣợc đƣa ra nhằm giúp Việt Nam lựa chọn sự kết hợp tối ƣu từ nay đến năm 2020. 4 CHƢƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BỘ BA BẤT KHẢ THI 1.
Các mô hình nền tảng dẫn đến lý thuyết Bộ ba bất khả thi 1. Mô hình IS-LM mở rộng: Mô hình Mundell-Fleming Đầu thập niên 60 thế kỷ XX, công trình nghiên cứu của hai nhà kinh tế học Robert Mundell và J.Fleming đã mang đến những đóng góp to lớn cho nền kinh tế thế giới. Mundell và Fleming cho rằng những quốc gia sử dụng chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa để đạt sự cân bằng giữa tổng cung – tổng cầu trên thị trƣờng hàng hóa và sự cân bằng trong cán cân thanh toán thì chính sách tiền tệ nên đƣợc dùng để đạt đƣợc sự cân bằng trong cán cân thanh toán và chính sách tài khóa nên đƣợc sử dụng để đạt sự cân bằng giữa tổng cung – tổng cầu. Cụ thể, Mundell và Fleming đã chỉ ra tác động của chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa dƣới các chế độ tỷ giá khác nhau thông qua việc phát triển mô hình IS-LM.
Đây đƣợc coi nhƣ nền tảng cho sự ra đời của lý thuyết Bộ ba bất khả thi. Để đánh giá tính hiệu quả của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ dƣới các chế độ tỷ giá khác nhau, Mundell và Fleming tiến hành phân tích dựa trên mô hình IS-LM-BP với giả định nền kinh tế tiến hành tự do hóa tài chính hoàn toàn. Trong đó, đƣờng IS là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà tại đó tổng cung bằng tổng cầu. Khi Chính phủ thi hành chính sách tài khóa, đƣờng IS sẽ dịch chuyển sang phải hoặc sang trái, biểu thị tác động của chính sách.
Đƣờng LM là tập hợp các phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà tại đó thị trƣờng tiền tệ cân bằng. Đƣờng LM dịch chuyển khi NHTW thực hiện chính sách tiền tệ. Đƣờng BP là tập hợp những phối hợp khác nhau giữa thu nhập và lãi suất mà ở đó cán cân thanh toán cân bằng. Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ dƣới chế độ tỷ giá cố định Giả sử nền kinh tế ban đầu cân bằng tại điểm E(Y*, r*) ( Hình 1.
Khi Chính phủ áp dụng chính sách tài khóa mở rộng, đƣờng IS dịch chuyển sang phải thành đƣờng IS’, cắt LM tại G. Lúc này, thị trƣờng hàng hóa đạt cân bằng tại mức sản lƣợng Y1 (Y1> Y*) và mức lãi suất r1 ( r1> r*). Lãi suất tăng khiến dòng vốn đầu tƣ có xu hƣớng chảy vào trong nƣớc nên cán cân thanh toán sẽ thặng dƣ và tỷ giá có xu hƣớng giảm. Để ổn định tỷ giá, NHTW phải bán nội tệ ra và mua ngoại tệ vào.
5 Hành động này đã vô hình chung làm tăng cung tiền, do đó, đƣờng LM dịch chuyển sang phải tới vị trí LM’. Nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại H.1: Hiệu quả của chính sách tiền tệ trong chế độ tỷ giá cố định Ngƣợc lại, nếu NHTW sử dụng chính sách tiền tệ mở rộng thay vì chính sách tài khóa, đƣờng LM sẽ dịch chuyển sang phải thành đƣờng LM’. Lúc này, nền kinh tế sẽ đạt tới vị trí cân bằng mới tại F( Y2, r2 ): sản lƣợng tăng (Y2> Y*) và lãi suất giảm ( r2< r*). Do đó, dòng vốn có xu hƣớng chảy ra nƣớc ngoài khiến cán cân thanh toán thâm hụt và tỷ giá có xu hƣớng tăng.
Dƣới chế độ tỷ giá cố định, NHTW phải bán ngoại tệ ra và mua nội tệ vào để duy trì tỷ giá ban đầu. Tuy nhiên, động thái này cũng đồng thời tác động làm giảm cung tiền khiến đƣờng LM dịch chuyển sang trái trở lại vị trí ban đầu và điểm cân bằng sẽ quay về lại điểm E. Hay nói cách khác, hiệu quả của chính sách tiền tệ chỉ tồn tại trong ngắn hạn. Có thể thấy, dƣới chế độ tỷ giá cố định, chính sách tài khóa có hiệu quả cao hơn so với chính sách tiền tệ.
Chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ dƣới chế độ tỷ giá linh hoạt Giả sử thị trƣờng hàng hóa ban đầu cân bằng tại điểm E (Y*, r*). NHTW thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng làm đƣờng LM dịch chuyển sang phải thành đƣờng LM’, cắt IS tại F. Tại vị trí cân bằng mới của nền kinh tế, sản lƣợng tăng lên, lãi suất giảm khiến dòng vốn có xu hƣớng chảy ra nƣớc ngoài dẫn tới cán cân thanh toán bị thâm hụt và tỷ giá có xu hƣớng tăng. Đồng nội tệ giảm giá dẫn đến xuất khẩu tăng và nhập khẩu giảm nên NX tăng lên.
Khi NX tăng khiến IS dịch chuyển sang phải tới vị trí IS’ và cán cân thanh toán thặng dƣ khiến BP dịch chuyển thành 6 BP’. Lúc này, nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng mới tại J với mức sản lƣợng Yj cao hơn ban đầu.2: Hiệu quả của chính sách tiền tệ trong chế độ tỷ giá thả nổi Tƣơng tự, khi Chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng, đƣờng IS dịch chuyển sang phải thành IS”, tạo ra điểm cân bằng mới tại G với mức sản lƣợng và lãi suất đều tăng. Do đó, dòng vốn có xu hƣớng chảy vào khiến cán cân thanh toán thặng dƣ và tỷ giá có xu hƣớng giảm. Đồng nội tệ tăng giá khiến xuất khẩu giảm và nhập khẩu tăng, kết quả xuất khẩu ròng NX giảm.
Kết quả, đƣờng IS” sẽ dịch chuyển ngƣợc lại thành IS’ trong khi BP dịch chuyển sang trái thành BP” tạo nên điểm cân bằng mới tại K. Tại vị trí này, sản lƣợng và lãi suất đều giảm so với mục tiêu hay tác động của chính sách tài khóa không hiệu quả nhƣ chính sách tiền tệ. Nói tóm lại, khi dòng vốn đƣợc tự do hóa hoàn toàn và chế độ tỷ giá linh hoạt, chính sách tiền tệ nên đƣợc sử dụng trong hoạt động điều hành kinh tế vĩ mô.3: Hiệu quả của chính sách tài khóa trong chế độ tỷ giá linh hoạt 7 1. Lý thuyết Bộ ba bất khả thi cổ điển Một trong những đóng góp quan trọng của mô hình Mundell-Fleming là việc xây dựng nên thuyết Bộ ba bất khả thi.
Mô hình IS-LM mở rộng của Mundell- Fleming đã cho thấy chính sách tiền tệ không thể phát huy hiệu quả dƣới chế độ tỷ giá cố định trong khi chính sách tài khóa không có tác dụng dƣới cơ chế tỷ giá thả nổi và ngƣợc lại. Dựa trên cơ sở đó, bộ ba bất khả thi ra đời với nội dung: Một đất nƣớc chỉ có thể đồng thời chọn bất kỳ hai trong số ba mục tiêu vĩ mô: Chính sách tiền tệ độc lập, ổn định tỷ giá và hội nhập tài chính. Chính sách tiền tệ độc lập Chính sách tiền tệ độc lập là khả năng của NHTW trong việc đƣa ra các chính sách tiền tệ nhằm điều tiết các mục tiêu kinh tế vĩ mô, chủ yếu thông qua hai công cụ chính là cung tiền và lãi suất ngắn hạn, mà không chịu ảnh hƣởng của những nhân tố khác. Sự độc lập này cho phép chính sách tiền tệ đƣợc xây dựng dựa trên những mục tiêu kinh tế thay vì chính trị hay những mục tiêu khác.
Ổn định tỷ giá Sự ổn định về tỷ giá nhƣ một cái neo danh nghĩa giúp chính phủ tiến hành các biện pháp ổn định giá cả. Ngoài ra, một chế độ tỷ giá ổn định, ít biến động sẽ giảm thiểu mức rủi ro trong các hoạt động đầu tƣ, do đó sẽ thu hút các luồng vốn đầu tƣ, thúc đẩy thƣơng mại quốc tế. Tuy nhiên, một chế độ tỷ giá quá cứng nhắc cũng có thể đem đến những bất ổn trong tăng trƣởng, rủi ro lạm phát cao, phân bổ sai nguồn lực và tăng trƣởng không bền vững. Hội nhập tài chính Hội nhập tài chính là quá trình thị trƣờng tài chính của một quốc gia mở cửa giao dịch với thị trƣờng tài chính của các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ khác trên thế giới.
Hội nhập tài chính có thể đƣợc tiến hành thông qua việc thực hiện các hiệp ƣớc kinh tế giữa các nền kinh tế thành viên. Cụ thể, các quốc gia sẽ từng bƣớc gỡ bỏ những rào cản đối với các hoạt động tài chính xuyên biên giới, đồng thời điều chỉnh các quy định của các hệ thống tài chính để đạt đƣợc sự thống nhất hoàn toàn giữa các thị trƣờng tài chính, chính sách thuế và luật pháp giữa các quốc gia thành viên trong khu vực. Đối với bất kỳ quốc gia nào, hội nhập tài chính cũng mang đến 8 những lợi ích cũng nhƣ tiềm ẩn những rủi ro cần chú ý. Một mặt, tự do tài chính thúc đẩy phân bổ nguồn vốn một cách hiệu quả và do đó góp phần tăng trƣởng kinh tế.
Đặc biệt, hội nhập tài chính sẽ tạo cơ hội cho các công ty vừa và nhỏ với mức tín nhiệm thấp đƣợc tiếp cận với một thị trƣờng vốn quy mô lớn hơn, danh mục đầu tƣ trở nên đa dạng hóa hơn. Ngoài ra, hội nhập tài chính có thể diễn ra dƣới nhiều hình thức nhƣ việc chia sẻ thông tin tài chính; sự tham gia của chủ thể nƣớc ngoài vào hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, quỹ lƣơng trong nƣớc. Bên cạnh đó, một quốc gia tiến hành tự do hóa tài chính có thể đối mặt với nguy cơ xảy ra các cuộc khủng hoảng ngân hàng và tiền tệ cũng nhƣ những bất ổn kinh tế vĩ mô.