Luận văn ThS La Thế Thanh Vy: Chính sách giảm nghèo bền vững tại Quận 11, TP.HCM

Luận văn thạc sĩ phân tích chính sách giảm nghèo bền vững tại Quận 11, TP.HCM. Nghiên cứu thực trạng, kết quả đạt được và các giải pháp thực tiễn.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Chính sách công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

70
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh giảm nghèo bền vững tại Quận 11 giai đoạn mới

Chương trình giảm nghèo bền vững tại Quận 11 là một nhiệm vụ chính trị trọng tâm, được xác định rõ trong các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội địa phương. Dựa trên định hướng của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 và chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững, Quận 11 đã triển khai một cách quyết liệt và đồng bộ. Giai đoạn 2016-2020 đánh dấu một bước chuyển mình quan trọng khi áp dụng phương pháp tiếp cận giảm nghèo đa chiều, không chỉ dựa vào thu nhập mà còn xét đến 5 chiều thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản. Cách tiếp cận này giúp nhận diện chính xác hơn thực trạng nghèo đói tại khu vực đô thị, từ đó xây dựng các chính sách hỗ trợ hộ nghèo phù hợp và hiệu quả hơn. Vào đầu giai đoạn 2016, toàn quận có 2.925 hộ nghèo (tỷ lệ 4,2%) và 1.505 hộ cận nghèo (tỷ lệ 3,15%). Mục tiêu đặt ra không chỉ là giảm các con số này mà còn là đảm bảo tính bền vững, ngăn ngừa tái nghèo, từng bước cải thiện đời sống người dân và thu hẹp khoảng cách giàu nghèo. Vai trò của chính quyền địa phương được thể hiện rõ nét qua việc lồng ghép mục tiêu giảm nghèo vào các kế hoạch hàng năm, đồng thời huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và cộng đồng. Các giải pháp được thực hiện song song, từ hỗ trợ vốn, đào tạo nghề, giới thiệu việc làm đến các chính sách về y tế, giáo dục, tạo điều kiện toàn diện để các hộ vươn lên.

1.1. Mục tiêu chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững

Chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững là chính sách nền tảng, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước, được cụ thể hóa qua nhiều văn kiện quan trọng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 Khóa XI đã nhấn mạnh việc ưu tiên các chính sách giảm nghèo cho các khu vực khó khăn, thu hẹp chênh lệch về mức sống. Mục tiêu chính là tạo ra sinh kế bền vững cho hộ nghèo, giúp họ tiếp cận các cơ hội việc làm và dịch vụ xã hội cơ bản. Chương trình không chỉ tập trung vào hỗ trợ tài chính trực tiếp mà còn hướng đến việc nâng cao năng lực cho người nghèo, khơi dậy ý chí tự vươn lên, tránh tâm lý trông chờ, ỷ lại.

1.2. Chuyển đổi sang phương pháp tiếp cận giảm nghèo đa chiều

Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, Việt Nam chính thức áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều. Tại TP.HCM và Quận 11, chuẩn hộ nghèo không chỉ xét thu nhập bình quân (từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống) mà còn dựa trên tổng điểm thiếu hụt của 5 chiều dịch vụ xã hội cơ bản. Các chiều này bao gồm: giáo dục, y tế, việc làm và bảo hiểm xã hội, điều kiện sống, và tiếp cận thông tin. Phương pháp giảm nghèo đa chiều này giúp chính quyền địa phương xác định đúng đối tượng và nguyên nhân gốc rễ của đói nghèo, từ đó đưa ra các giải pháp can thiệp trúng đích, góp phần đảm bảo an sinh xã hội Quận 11 một cách toàn diện.

II. Những thách thức trong thực tiễn xóa đói giảm nghèo Quận 11

Mặc dù đạt được những thành tựu ấn tượng, công tác xóa đói giảm nghèo Quận 11 vẫn đối mặt với không ít thách thức. Một trong những hạn chế lớn được luận văn chỉ ra là việc nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các hộ nghèo đôi khi còn mang tính hình thức, chưa kịp thời. Các chính sách hỗ trợ vẫn còn tình trạng dàn trải, chưa thực sự chú trọng đến tính đặc thù và thiết yếu của từng hộ gia đình. Vấn đề nhân sự cũng là một rào cản, khi chức danh cán bộ chuyên trách giảm nghèo bị sáp nhập, gây áp lực lớn lên công chức Lao động - Thương binh và Xã hội. Bên cạnh đó, việc thực hiện các chỉ tiêu về chiều xã hội, đặc biệt là bảo hiểm xã hội, gặp nhiều khó khăn. Công tác phối hợp tổ chức học nghề và giới thiệu việc làm chưa đạt hiệu quả như kỳ vọng, một phần do người lao động có xu hướng ưu tiên các công việc phổ thông có thu nhập ngay. Hơn nữa, công tác tuyên truyền về mục tiêu và giải pháp của chương trình còn hạn chế, dẫn đến sự tham gia của người dân, đặc biệt là người nghèo, chưa thực sự chủ động. Đây là những vấn đề cần được khắc phục để đảm bảo kết quả giảm nghèo bền vững tại Quận 11.

2.1. Hạn chế trong công tác tuyên truyền và nhận thức người dân

Công tác tuyên truyền tại một số phường của Quận 11 chưa thực sự đi vào chiều sâu, chưa đến được từng thành viên trong hộ nghèo. Việc này dẫn đến hệ quả là người dân chưa tiếp cận đầy đủ thông tin về chuẩn nghèo mới, các chính sách hỗ trợ hộ nghèo, và quyền lợi của mình. Theo tài liệu nghiên cứu, sự hạn chế trong tham gia của người nghèo làm giảm đi tác động và tính hiệu quả của chính sách. Một bộ phận người dân vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại, chưa chủ động tìm kiếm các giải pháp tạo việc làm hay tham gia đào tạo nghề cho người nghèo.

2.2. Khó khăn về bộ máy nhân sự và phối hợp liên ngành

Việc sáp nhập chức danh cán bộ Giảm nghèo bền vững vào công chức Lao động - Thương binh và Xã hội theo Nghị định số 34/2019/NĐ-CP đã tạo ra một khối lượng công việc khổng lồ cho một người. Luận văn đặt ra câu hỏi về khả năng một công chức có thể thực hiện tốt đồng thời nhiều nhiệm vụ, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng tham mưu và triển khai chương trình. Sự phối hợp giữa các ban ngành trong việc triển khai các mô hình giảm nghèo hiệu quả đôi khi còn thiếu đồng bộ, làm phân tán nguồn lực và giảm hiệu quả chung.

2.3. Thực trạng nghèo đói tại khu vực đô thị và tính bền vững

Thực trạng nghèo đói tại khu vực đô thị như Quận 11 có những đặc thù riêng, đòi hỏi các giải pháp linh hoạt. Kết quả giảm nghèo dù tích cực nhưng tính bền vững vẫn là một dấu hỏi. Nhiều hộ thoát nghèo nhưng mức sống vẫn còn bấp bênh, dễ tái nghèo khi gặp các cú sốc về kinh tế hoặc sức khỏe. Đặc biệt, chiều thiếu hụt về Bảo hiểm xã hội rất khó thực hiện, cho thấy vấn đề an sinh lâu dài cho người lao động nghèo vẫn chưa được giải quyết triệt để, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu giảm nghèo bền vững.

III. Phương pháp hỗ trợ tài chính và an sinh xã hội tại Quận 11

Để hiện thực hóa mục tiêu giảm nghèo bền vững tại Quận 11, một loạt các chính sách hỗ trợ về tài chính và an sinh xã hội đã được triển khai một cách có hệ thống. Trọng tâm của các chính sách này là tạo ra "cần câu" thay vì "con cá", giúp người nghèo có công cụ để tự lực vươn lên. Nguồn tín dụng chính sách xã hội được xem là đòn bẩy quan trọng, cung cấp vốn ưu đãi để các hộ nghèo, cận nghèo có điều kiện phát triển sản xuất, kinh doanh nhỏ. Từ năm 2016 đến 2019, Ngân hàng Chính sách Xã hội đã giải ngân hàng trăm tỷ đồng thông qua các chương trình tín dụng, giúp hàng nghìn lượt hộ được vay vốn. Song song với hỗ trợ tài chính, các chính sách về an sinh xã hội cũng được chú trọng, đặc biệt là trong lĩnh vực y tế và giáo dục. Việc cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí và hỗ trợ chi phí học tập đã giảm bớt gánh nặng tài chính cho các gia đình khó khăn, đảm bảo người dân được tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Những nỗ lực này không chỉ cải thiện đời sống người dân trước mắt mà còn tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển lâu dài, đóng góp vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội Quận 11.

3.1. Hiệu quả từ tín dụng chính sách xã hội cho hộ nghèo

Nguồn vốn từ tín dụng chính sách xã hội đã phát huy hiệu quả rõ rệt. Theo số liệu, tổng dư nợ đến cuối năm 2019 đạt gần 300 tỷ đồng. Nguồn vốn này đã giúp nhiều hộ gia đình có phương tiện sinh kế, mở rộng quy mô sản xuất nhỏ, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập. Hoạt động cho vay không chỉ dừng lại ở hộ nghèo mà còn mở rộng ra các đối tượng chính sách khác, hỗ trợ học sinh sinh viên, giải quyết việc làm. Việc quản lý và sử dụng vốn vay được giám sát chặt chẽ bởi các tổ chức đoàn thể, đảm bảo vốn được sử dụng đúng mục đích, góp phần giảm nghèo một cách thực chất.

3.2. Tăng cường hỗ trợ y tế và giáo dục cho hộ cận nghèo

Chính sách hỗ trợ y tế và giáo dục cho hộ cận nghèo và hộ nghèo là trụ cột của lưới an sinh xã hội. Luận văn cho thấy 100% người nghèo và cận nghèo đã được cấp thẻ Bảo hiểm y tế, đảm bảo quyền được chăm sóc sức khỏe. Trong lĩnh vực giáo dục, chính sách miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập đã giúp hàng trăm học sinh thuộc diện khó khăn có điều kiện tiếp tục đến trường. Những hỗ trợ này có ý nghĩa nhân văn sâu sắc, giúp phá vỡ vòng luẩn quẩn của đói nghèo qua các thế hệ, đầu tư vào nguồn nhân lực tương lai của quận.

IV. Bí quyết nâng cao năng lực và tạo sinh kế bền vững tại Quận 11

Chìa khóa cho giảm nghèo bền vững tại Quận 11 nằm ở việc nâng cao năng lực cho người nghèo và xây dựng các mô hình giảm nghèo hiệu quả. Thay vì chỉ hỗ trợ vật chất, quận tập trung vào các giải pháp giúp người lao động tự tạo ra thu nhập ổn định. Công tác đào tạo nghề cho người nghèo được triển khai với nhiều ngành nghề đa dạng, gắn với nhu cầu thực tế của thị trường. Hàng năm, hàng nghìn lao động được đào tạo nghề, trong đó có nhiều lao động nông thôn được hỗ trợ miễn phí theo Đề án 1956. Bên cạnh đào tạo, việc nhân rộng các mô hình sinh kế bền vững cho hộ nghèo cũng được đẩy mạnh. Các mô hình này được xây dựng dựa trên thế mạnh của từng địa phương và nguyện vọng của người dân, từ sản xuất nhỏ, kinh doanh dịch vụ đến các mô hình nông nghiệp đô thị. Vai trò của chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể là rất quan trọng trong việc tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật, kết nối thị trường tiêu thụ sản phẩm, đảm bảo các mô hình này không chỉ tồn tại mà còn phát triển, mang lại hiệu quả kinh tế lâu dài, giúp các hộ thoát nghèo một cách vững chắc.

4.1. Vai trò của đào tạo nghề trong giải pháp tạo việc làm

Hoạt động đào tạo nghề cho người nghèo là một giải pháp tạo việc làm căn cơ. Từ năm 2016, quận đã tổ chức đào tạo cho hàng nghìn lao động với các ngành nghề đa dạng. Tuy nhiên, luận văn cũng chỉ ra hạn chế là công tác này đôi khi còn chạy theo chỉ tiêu, chưa gắn kết chặt chẽ với giải quyết việc làm sau đào tạo. Để khắc phục, cần có sự dự báo tốt hơn về nhu cầu học nghề và thị trường lao động, đồng thời tăng cường kết nối với các doanh nghiệp để đảm bảo đầu ra cho người học, giúp họ có việc làm ổn định và thu nhập tốt hơn.

4.2. Xây dựng sinh kế bền vững cho hộ nghèo qua các mô hình mới

Việc nhân rộng các mô hình giảm nghèo hiệu quả là một hướng đi đúng đắn. Lấy kinh nghiệm giảm nghèo tại TPHCM, đặc biệt từ Quận 8 với phương châm "Cho cần câu chứ không cho con cá", Quận 11 đã hỗ trợ các phương tiện sinh kế như xe bán hàng, máy may... dựa trên nguyện vọng và hoàn cảnh của từng hộ. Các mô hình này giúp người nghèo có cơ hội mưu sinh phù hợp, phát huy được năng lực bản thân. Để các mô hình này thực sự tạo ra sinh kế bền vững cho hộ nghèo, cần có sự đồng hành, hỗ trợ về kỹ thuật và kết nối tiêu thụ sản phẩm từ phía chính quyền.

V. Đánh giá tác động chính sách giảm nghèo và kết quả thực tiễn

Việc đánh giá tác động chính sách giảm nghèo cho thấy những kết quả rất tích cực trong giai đoạn 2016-2020 tại Quận 11. Thành tựu nổi bật nhất là quận đã hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo theo chuẩn thành phố giai đoạn 2016-2020 trước thời hạn 2 năm. Đến cuối năm 2018, toàn quận chỉ còn 494 hộ cận nghèo. Khi áp dụng chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2019-2020, quận tiếp tục nỗ lực và kéo giảm đáng kể số hộ nghèo. Cụ thể, trong năm 2019 đã kéo giảm 463/506 hộ nghèo, đưa 13/16 phường hoàn thành mục tiêu không còn hộ nghèo. Những con số này phản ánh hiệu quả của một quá trình chỉ đạo quyết liệt và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Kết quả này không chỉ thể hiện ở các chỉ số kinh tế mà còn ở sự cải thiện đời sống người dân một cách rõ rệt. Người dân được tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ y tế, giáo dục, điều kiện nhà ở được nâng cấp. Đây là minh chứng cho sự thành công của chương trình giảm nghèo bền vững tại Quận 11, góp phần quan trọng vào sự ổn định và phát triển kinh tế - xã hội Quận 11.

5.1. Phân tích số liệu và tỷ lệ giảm nghèo giai đoạn 2016 2020

Số liệu từ luận văn cho thấy một bức tranh khả quan. Từ 4,2% hộ nghèo vào đầu năm 2016, Quận 11 đã cơ bản hoàn thành mục tiêu vào cuối năm 2018. Ngay cả khi áp dụng chuẩn nghèo mới cao hơn vào năm 2019, quận vẫn đạt được tỷ lệ giảm nghèo ấn tượng. Trong năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm mạnh, cho thấy các chính sách can thiệp đã phát huy tác dụng nhanh chóng và hiệu quả. Việc đánh giá tác động chính sách giảm nghèo thông qua các con số cụ thể giúp khẳng định tính đúng đắn của phương pháp tiếp cận đa chiều.

5.2. Cải thiện đời sống người dân và phát triển kinh tế xã hội

Thành công của chương trình không chỉ nằm ở việc giảm tỷ lệ hộ nghèo. Quan trọng hơn, nó đã tác động tích cực đến việc cải thiện đời sống người dân. Các chính sách hỗ trợ đã giúp người dân có thu nhập ổn định hơn, con em được học hành đầy đủ, sức khỏe được chăm sóc tốt hơn. Sự ổn định này là nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội Quận 11. Khi đời sống người dân được nâng cao, các vấn đề xã hội giảm bớt, trật tự an toàn được giữ vững, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển chung của toàn quận.

04/10/2025
Luận văn thực hiện chính sách giảm nghèo bền vững trên địa bàn quận 11 thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ MỘT SỐ VẪN ĐỀ THỰC TIỄN VỀ THỰC 8 HIỆN CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Các khái niệm liên quan 1. Khái niệm đói nghèo - Đói (hay thiếu đói), theo giác độ xã hội là lâm vào tình trạng thiếu lương thực. Đó là tình trạng thiếu thốn, khó khăn về đời sống vật chất đến mức nhu cầu thiết yếu số một để tồn tại (nhu cầu ăn) cũng không thể đáp ứng được.

Người bị thiếu đói thường là do gặp phải hoàn cảnh khó khăn về điều kiện sinh sống, như không có đủ điều kiện sản xuất, tạo thu nhập; không đủ sức lao động; hoặc gặp phải những sự cố bất thường như ốm đau, bệnh tật, thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh… - Nghèo là ở vào tình trạng không có hoặc có rất ít những gì thuộc yêu cầu tối thiểu của đời sống vật chất. Người nghèo thường cũng do gặp phải những hoàn cảnh nêu trên, nhưng mức độ ít gay gắt hơn, nên có thể trang trải được lương thực cho nhu cầu ăn, không bị đói. Tuy phân chia về mức độ như vậy, nhưng trên thực tế ranh giới đói, nghèo; thiếu hay không thiếu lương thực cũng rất mong manh. Vì vậy, trong nhiều trường hợp người ta vẫn gộp chung lại, gọi là tình trạng đói nghèo.

Xóa đói, giảm nghèo: là làm cho người nghèo, vùng nghèo tiếp cận các cơ hội việc làm, dịch vụ để bảo đảm mức sống và thụ hưởng các dịch vụ tốt nhất có thể. Cơ chế, chính sách xóa đói giảm nghèo: Cơ chế, chính sách XĐGN ở nước ta được thực hiện thông qua các chương trình, dự án, các quy định của Nhà nước như Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm giai đoạn 2016-2020. Tỷ lệ đói nghèo: là tỷ lệ hộ dân số có thu nhập, và điều kiện thụ hưởng dịch vụ dưới mức chuẩn của nhà nước trên tổng số hộ của địa phương đó tại thời điểm khảo sát, đánh giá. Mặt hạn chế của chỉ tiêu này là chưa thể hiện đầy 9 đủ được mức độ và tính chất đói nghèo so với chuẩn nghèo (mức độ nằm dưới, cách xa ngưỡng nghèo; mức độ cận trên chuẩn nghèo) do đó không chỉ rõ được cơ cấu đầy đủ của tình trạng đói nghèo.

Bởi vậy, nếu chỉ căn cứ vào tỷ lệ đói nghèo thì sẽ khó khăn trong việc đưa ra chính sách XĐGN sát hợp với từng loại đối tượng, ở từng vùng (như nghèo giữa đồng bào dân tộc thiểu số với người kinh; giữa vùng đồng bằng, trung du với vùng cao…). * Các thước đo về đói nghèo: - Ngưỡng nghèo (hay chuẩn nghèo): Ngưỡng nghèo là mức độ về đời sống, được xác định để phân chia ranh giới giữa “nghèo” và “không nghèo”. Đây là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá tình trạng đói nghèo và đối tượng cần hỗ trợ XĐGN. Có 2 loại ngưỡng nghèo là ngưỡng nghèo tuyệt đối và ngưỡng nghèo tương đối.

+ Ngưỡng nghèo tuyệt đối là số tuyệt đối về mức sống của cá nhân, hộ gia đình được coi là nghèo, trong một khoảng thời gian nhất định của mỗi quốc gia, mỗi địa phương. Tuỳ thuộc vào mức sống chung và trình độ phát triển trong mỗi giai đoạn, cấp chính quyền ban hành ngưỡng nghèo tuyệt đối cho quốc gia, vùng lãnh thổ, khu vực hoặc địa phương. Khi trình độ phát triển còn thấp, một bộ phận đáng kể cư dân còn chưa đủ ăn, người ta thường ban hành ngưỡng nghèo tuyệt đối về lương thực, thực phẩm (là số tiền cần thiết để mua được một lượng lương thực, thực phẩm bảo đảm cung cấp một lượng calo để duy trì cuộc sống và tái sản xuất sức lao động); và ngưỡng nghèo chung (có tính đến số tiền chi tiêu cho cả các sản phẩm phi lương thực khác). + Ngưỡng nghèo tương đối là mức sống (mức thu nhập) của đối tượng, tính theo tỷ lệ phần trăm so với thu nhập trung bình đầu người của toàn xã hội.

Tỷ lệ này thường được xác định ở mức 50% hoặc 60%. Những người có mức thu nhập ròng thấp hơn mức này thì được coi là người nghèo. Ở nước ta, tùy tình hình phát triển kinh tế- xã hội của địa phương mà có những chuẩn khác nhau để tham chiếu, đánh giá hộ nghèo. 10 - Giai đoạn 2006 - 2010: Năm 2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08/7/2005 về việc xác định chuẩn mực đói nghèo mới giai đoạn 2006 - 2010 là: Khu vực thành thị là 260.000 đồng/ người/tháng.

Khu vực nông thôn là 200.000 đồng/người/tháng. Mức chuẩn nghèo căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016-2020. Có thể nói, chuẩn đói nghèo đã được điều chỉnh tương ứng với tốc độ tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện tập trung nguồn lực trợ giúp có hiệu quả nhóm dân cư nghèo nhất trong xã hội, cũng như để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người *Chuẩn nghèo của Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2016 - 2020: Căn cứ vào Quyết định số 1614/QĐ -TTg ngày 15 tháng 9 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020” và Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020, chuẩn hộ nghèo và hộ cận nghèo của Thành phố xác định như sau: Chuẩn hộ nghèo Thành phố: Hộ nghèo Thành phố là những hộ dân Thành phố có hộ khẩu thường trú và tạm trú KT3, có 1 hoặc cả 2 tiêu chí sau: có thu nhập bình quân từ 21 triệu đồng/người/năm trở xuống; có tổng số điểm thiếu hụt của 5 chiều nghèo (các dịch vụ xã hội cơ bản) từ 40 điểm trở lên. * Chuẩn hộ cận nghèo Thành phố: Hộ cận nghèo Thành phố là những hộ dân Thành phố có hộ khẩu thường 11 trú và tạm trú KT3 có 2 tiêu chí sau: - Có thu nhập bình quân từ trên 21 triệu đồng/người/năm đến 28 triệu đồng/người/năm.

- Có tổng số điểm thiếu hụt của 5 chiều nghèo (các dịch vụ xã hội cơ bản) dưới 40 điểm (từ 0 đến 35 điểm). * Tiêu chí xác định mức độ thiếu hụt của các chiều nghèo (các dịch vụ xã hội cơ bản): - Có 5 chiều nghèo (các dịch vụ xã hội cơ bản): giáo dục và đào tạo; y tế; việc làm và bảo hiểm xã hội; điều kiện sống; tiếp cận thông tin. - Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt của các chiều nghèo (11 chỉ số với tổng điểm là 100 điểm), gồm: trình độ giáo dục của người lớn (10 điểm); tình trạng đi học của trẻ em (10 điểm); trình độ nghề (10 điểm); tiếp cận các dịch vụ y tế (10 điểm); bảo hiểm y tế (10 điểm); việc làm (10 điểm); bảo hiểm xã hội (10 điểm); nhà ở (10 điểm); nguồn nước sinh hoạt (10 điểm); sử dụng viễn thông (5 điểm); tài sản phục vụ tiếp cận thông tin (5 điểm). - Ngưỡng thiếu hụt các chiều nghèo (các dịch vụ xã hội cơ bản) của hộ dân là từ 40 điểm trở lên.

Giảm nghèo bền vững Giảm nghèo là tiêu chí minh chứng cho một quốc gia phát triển. Ngân sách nhà nước tuy chưa dồi dào để có thể đồng thời giải quyết một lúc tất cả những vấn đề đặt ra của đất nước, nhưng chính sách giảm nghèo những năm qua của Nhà nước đã và đang ngày càng đi vào vùng nghèo một cách sâu sát, thiết thực hơn. Giảm nghèo bền vững là một trong bảy chương trình mục tiêu quốc gia. Giúp hộ nghèo có sinh kế bền vững là minh chứng thực sống động thi quyền con người.

Bởi vậy, xóa đói giảm nghèo là một trong bảy chương trình mục tiêu quốc gia được Nhà nước Việt Nam ưu tiên đặc biệt. Công tác giảm nghèo ở các quận của thành phố Hồ Chí Minh là toàn bộ 12 hoạt động của các cấp uỷ đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn quận nhằm làm cho số lượng người nghèo, hộ nghèo ở từng quận của thành phố ngày càng giảm so với số lượng người nghèo, hộ nghèo trong thời điểm hiện tại, trên cơ sở chuẩn nghèo đã được xác định. Chính sách Giảm nghèo bền vững. Chính sách giảm nghèo bền vững là hệ thống chính sách được tích hợp trong nhiều chủ trương, chính sách, pháp luật khác nhau ở Trung ương và địa phương, nhưng tập trung nhất trong 02 Chương trình mục tiêu quốc gia đó là Chương trình giảm nghèo bền vững và Chương trình xây dựng nông thôn mới.

Chương trình mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững đã được thực hiện bởi hai giai đoạn 2011-2015 và 2016-2020. Năm 2011, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 13/2011/QH13 ngày 09/11/2011 về Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011-2015, trong đó Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững được ưu tiên hàng đầu. Chính phủ ban hành Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ từ năm 2011 đến năm 2020 và Thủ tướng phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững 2012-2015. Đối tượng của Chương trình là người nghèo và các huyện, xã nghèo.

Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016- 2020 gồm các nội dung: i) Hỗ trợ các huyện, xã nghèo, bao gồm: Đầu tư vào kết cấu hạ tầng sản xuất và sinh hoạt; hỗ trợ sản xuất và đa dạng hóa sinh kế của người nghèo ở huyện xã nghèo; nâng cao chất lượng nhân lực ở huyện, xã nghèo tham gia xuất khẩu lao động nhằm nâng cao thu nhập và giảm nghèo. ii) Hỗ trợ các xã nghèo miền núi biên giới bao gồm: đầu tư vào kết cấu hạ tầng; hỗ trợ sản xuất và đa dạng hóa sinh kế; nâng cao năng lực cán bộ cấp cơ sở. iii) Hỗ trợ sản xuất, đa dạng sinh kế ở những xã không thuộc dự án 30A và 135. 13 iv) Truyền thông về giảm nghèo và tiếp cận thông tin của người nghèo.

v) Nâng cao năng lực của Chính phủ giám sát chương trình. Từ năm 2016, Chuẩn nghèo mới, tiếp cận đa chiều được áp dụng để đo lường tình trạng nghèo của hộ gia đình một cách đầy đủ và tổng thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ