CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VÀ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIAO NỘP, TIẾP CẬN, CÔNG KHAI CHỨNG CỨ 1. Khái niệm và đặc điểm của giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ 1. Khái niệm của giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ BLTTDS năm 2015 không quy định cụ thể thế nào là giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng thông qua các quy định về trình tự thủ tục của từng thủ tục ta có thể đưa ra khái niệm chung hợp nhất của hoạt động này. Trước hết, ta cùng tìm hiểu khái niệm của từng thủ tục.
Thứ nhất là khái niệm giao nộp chứng cứ Theo Từ điển Tiếng Việt, "giao nộp là nộp cho cơ quan có trách nhiệm thu giữ như giao nộp tiền thuế cho kho bạc, giao nộp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất"1. Còn theo từ điển từ và ngữ Việt Nam của Giáo sư Nguyễn Lân thì "giao nộp được hiểu là trao cho một cấp nào, theo chủ trương chung", ví dụ như giao nộp thông tin người cư trú cho công an quản lý hành chính2. Từ các khái niệm trên, có thể thấy xét về mặt ngữ nghĩa, giao nộp là hành động mà chủ thể thực hiện khi có nghĩa vụ đối với một cơ quan nào đó. Theo tác giả Bùi Thuận Yến, giao nộp chứng cứ được hiểu là "hoạt động tố tụng của các chủ thể tham gia tố tụng trong việc giúp cho Tòa án, Viện kiểm sát có thêm các chứng cứ xác thực của vụ việc dân sự"3.
Tuy nhiên, khái niệm này chưa thể hiện được việc giao nộp chứng cứ là giao cho chủ thể nào và theo Điều 96 của BLTTDS năm 2015 quy định cụ thể về giao nộp tài liệu, chứng cứ, theo đó đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ. Như vậy, giao nộp chứng cứ là bao 1 Viện Ngôn ngữ học (2002) Từ điển Tiếng Việt phổ thông, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, trang 348 2 Nguyễn Lân (2000) Từ điển từ và ngữ Việt Nam, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ chí Minh, trang 748 3 Bùi Thuận Yến (2016) Về giao nộp chứng cứ - điểm mới theo quy định của Bộ luật TTDS, Tạp chí Quản lý Nhà nước, số 245, trang 114. 9 gồm cả giao nộp tài liệu (những thứ chưa phải chứng cứ) và giao nộp chứng cứ. Theo quy định tại Điều 96 của BLTTDS năm 2015 khi quy định về giao nộp tài liệu, chứng cứ, bộ luật chỉ đề cập đến chủ thể thực hiện duy nhất là đương sự.
Còn đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thì cụm từ "giao nộp chứng cứ" không được sử dụng mà thay vào đó là thuật ngữ "cung cấp chứng cứ" được dùng để quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể này. Vậy "giao nộp chứng cứ" khác với "cung cấp chứng cứ" như thế nào? BLTTDS năm 2015 quy định: "Trường hợp có yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, Tòa án ra quyết định yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án…"4 "Trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự"5. Như vậy, trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người khác mà thực hiện việc cung cấp chứng cứ thì sẽ phải tuân thủ quy định về giao nộp tài liệu, chứng cứ như đối với đương sự tại Điều 96 BLTTDS năm 2015. Theo tác giả, "cung cấp chứng cứ" có thể được hiểu theo hai nghĩa, nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, cung cấp chứng cứ chính là hoạt động của tất cả các chủ thể bao gồm đương sự, các nhân, cơ quan, tổ chức giúp người tiến hành tố tụng có thêm các chứng cứ xác thực để giải quyết vụ án dân sự; khi ấy, cung cấp chứng cứ sẽ có nội dung bao hàm cả hoạt động giao nộp chứng cứ. Theo nghĩa hẹp, cung cấp chứng cứ chỉ là hoạt động cung cấp chứng cứ theo yêu cầu tại Điều 106 BLTTDS năm 2015. Khi ấy, nội hàm của "cung cấp chứng cứ" và "giao nộp chứng cứ" là không giống nhau vì hai hoạt động này có sự khác nhau về chủ thể thực hiện và chủ thể tiếp nhận chứng cứ. Đối với hoạt động giao nộp chứng cứ thì chủ thể thực hiện là đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, các nhân khởi kiện, yêu cầu bảo vệ quyền lợi của người 4 Điều 106 của BLTTDS năm 2015.
5 Khoản 1 Điều 5 của BLTTDS năm 2015. 10 khác (Chủ thể tham gia tố tụng) và cơ quan tiếp nhận chứng cứ duy nhất là Tòa án. Còn đối với hoạt động cung cấp chứng cứ thì chủ thể thực hiện bao gồm các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác không phải là đương sự và chủ thể tiếp nhận chứng cứ ngoài cơ quan Tòa án và Viện kiểm sát thì còn có đương sự. Do đó, hoạt động giao nộp chứng cứ phải là hoạt động của các chủ thể tham gia tố tụng và chủ thể tiếp nhận là Tòa án.
Vì vậy, theo quan điểm của tác giả thì giao nộp chứng cứ là hoạt động tố tụng của các chủ thể tham gia tố tụng nhằm giao nộp các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ án cho Tòa án. Pháp luật tố tụng quy định thủ tục chặt chẽ về việc giao nộp chứng cứ nhưng các tài liệu, chứng cứ thu thập được không chỉ để lưu hồ sơ mà để cho các chủ thể tố tụng được tiếp cận chứng cứ. Sau đây, ta sẽ làm rõ khái niệm về tiếp cận chứng cứ. Thứ hai là khái niệm tiếp cận chứng cứ Về mặt ngôn ngữ học, thuật ngữ “tiếp cận” theo tiếng Anh được đồng nhất với “quyền tiếp cận, quyền được sử dụng, được phép tiếp cận hoặc là lối vào, lối đi qua”6; còn theo nghĩa tiếng Việt là “từng bước, bằng những phương pháp nhất định, tìm hiểu một đối tượng nghiên cứu nào đó”7.
Theo quan điểm của TS. Đỗ Xuân Lân - Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật, Bộ Tư pháp, “tiếp cận” chính là quá trình tương tác giữa chủ thể này với một chủ thể khác nhằm đạt được một mục tiêu xác định. Như vậy, có thể hiểu tiếp cận chứng cứ là quá trình tương tác giữa các chủ thể với đương sự hoặc Tòa án nhằm thu thập, tìm hiểu và sử dụng các chứng cứ của VADS. BLTTDS năm 2015 hiện hành không quy định cụ thể “tiếp cận chứng cứ” là gì mà thuật ngữ này chỉ xuất hiện trong cụm thuật ngữ “phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải”.
Luật tố tụng hành chính năm 2015 khi đề cập đến quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ thì khoản 1 Điều 98 có quy định 6 Vũ Trọng Phùng, Nguyễn Đăng Dung, Vũ Trọng Khải, Phan Thăng (2000) Từ điển Pháp luật Anh - Việt, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh, trang 8; 7 Viện Ngôn ngữ học (2006) Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội-Đà Nẵng, trang 987; 11 “Đương sự có quyền được biết, ghi chép, sao chụp, trao đổi tài liệu, chứng cứ do đương sự khác giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập được…” Khi đối chiếu với các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong BLTTDS năm 2015 thì tại khoản 8 Điều 70 của Bộ luật này cũng có quy định tương tự: “Đương sự có quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập…”. Như vậy, trong pháp luật về tố tụng nói chung, tiếp cận chứng cứ được hiểu dưới góc độ là quyền pháp lý của chủ thể, đó là quyền được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ. Cách hiểu này cũng khá tương đồng với quan điểm của tác giả Chu Quang Duy khi cho rằng “tiếp cận chứng cứ là việc các đương sự có quyền được biết, được ghi chép, được sao chụp tài liệu trong hồ sơ; Được thông báo về những tài liệu mà Tòa án thu thập được. Khi đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án thì họ phải sao gửi tài liệu, chứng cứ đó cho đương sự khác”8.
Tuy nhiên, khái niệm của tác giả Chu Quang Duy nêu ra lại rộng và bao hàm cả khái niệm công khai chứng cứ nên theo quan điểm của tác giả thì tiếp cận chứng cứ là hoạt động tố tụng của chủ thể tham gia tố tụng nhằm được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do Tòa án thu thập. Tiếp cận chứng cứ là quyền của đương sự nhưng để đảm bảo thực hiện quyền này thì phải thực hiện tốt hoạt động công khai chứng cứ. Vậy công khai chứng cứ trong tố tụng dân sự là gì, ta cùng tìm hiểu khái niệm này như sau. Thứ ba là khái niệm công khai chứng cứ Theo từ điển Tiếng Việt "công khai" có thể được hiểu là "không giữ kín và để cho mọi người đều có thể biết"9.
Từ đó, ta có thể hiểu, công khai chứng cứ là hành vi tố tụng nhằm công bố tất cả các tài liệu, chứng cứ cho các chủ thể trong TTDS được biết. BLTTDS năm 2004 chỉ quy định một cách chung chung về việc chứng cứ được công khai nhưng không quy định cụ thể thủ tục công khai như thế nào, thì nay BLTTDS năm 2015 quy định cụ thể về phiên họp mà các chứng cứ được công khai 8 Chu Quang Duy (2018) “Phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo BLTTDS 2015”, Tạp chí TAND điện tử. 9 Viện Ngôn ngữ học (2006) Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Hà Nội- Đà Nẵng, trang 208 12 để tất cả các chủ thể trong vụ án có thể tiếp cận. BLTTDS năm 2015 cũng quy định cụ thể về việc đương sự khi giao nộp tài liệu chứng cứ cho Tòa án thì cũng gửi bản sao cho đương sự khác biết và trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ khi thu thập được tài liệu chứng cứ thì Tòa án có trách nhiệm thông báo cho các đương sự biết.
Như vậy, đối với các hoạt động giao nộp và tiếp cận chứng cứ thì chủ thể thực hiện chỉ có chủ thể tham gia tố tụng thì đối với hoạt động công khai chứng cứ thì chủ thể thực hiện còn có Tòa án.