CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC THI QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ÂM NHẠC TẠI NHÀ HÀNG, KHÁCH SẠN 1. Khái quát về quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc 1.1 Khái niệm quyền tác giả Quyền sở hữu trí tuệ đƣợc chia ra làm ba nhóm quyền chính bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng. Trong đó, có thể hiểu quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc do mình sở hữu.
Trong định nghĩa nêu trên đã chỉ ra đối tƣợng thuộc phạm vi bảo của quyền tác giả chính là các tác phẩm. Trên thực tế, nội hàm của “tác phẩm” đối với mỗi hệ thống pháp luật có những sự khác nhau, chẳng hạn có pháp luật cho rằng “chƣơng trình phần mềm” là đối tƣợng của việc bảo hộ quyền tác giả nhƣng có hệ thống lại không. Tuy nhiên, dù ở hệ thống pháp luật nào thì “tác phẩm âm nhạc” luôn là một đối tƣợng đƣợc bảo hộ theo quyền tác giả. Đồng thời, định nghĩa trên cũng cho thấy đƣợc căn cứ phát sinh quyền tác giả chính là việc “sáng tạo ra” hoặc “sở hữu”.
Đối với căn cứ “sáng tạo ra”. Quyền tác giả phát sinh trong trƣờng hợp tác giả tự mình, bằng chính sức lao động của mình tạo ra tác phẩm đó. Nói cách khác, tác phẩm phải có tính “nguyên gốc”. Tính nguyên gốc, tức là không sao chép, bắt chƣớc của ai.
Điều đó không có nghĩa là tác phẩm phải mới, mà có nghĩa là hình thức thể hiện ý tƣởng của tác phẩm phải do chính tác giả sáng tạo ra [8, tr57]. Đối với căn cứ “sở hữu”. Trƣờng hợp này, quyền sở hữu trí tuệ phát sinh theo các căn cứ phát sinh quyền sở hữu đƣợc quy định tại Điều 211, Bộ 8 luật dân sự năm 2015 về các căn cứ xác lập quyền sở hữu. Căn cứ này không thể hiện bản chất của quyền tác giả nên không quá quan trọng trong vấn đề nghiên cứu.
Định nghĩa về quyền tác giả nêu trên chƣa hoàn chỉnh do chƣa nêu đầy đủ các đặc điểm, nội hàm của quyền tác giả do đó mà chƣa thể rút ra đƣợc các đặc điểm về quyền tác giả. Pháp luật của hầu hết các nƣớc trên thế giới và cả Việt Nam đều tƣơng đồng ở chỗ “không bảo hộ các ý tƣởng mà chỉ bảo hộ cách trình bày ý tƣởng đó”. Biết rằng, trong văn học, nghệ thuật, khoa học không thể thiếu ý tƣởng của ngƣời sáng tạo. Nhƣng ý tƣởng đó phải thông qua lao động, sáng tạo của tác giả để làm ra một tác phẩm dƣới một hình thức vật chất nhất định [14, tr164].
Hình thức vật chất ở đây không hề đƣợc quy định cụ thể, miễn là con ngƣời có thể tiếp thu, hiểu và lƣu trữ và truyền đạt đƣợc. Nói nhƣ vậy, không phải tác phẩm không có bất kỳ mức độ sáng tạo nào cũng phát sinh quyền tác giả (ví dụ tổng hợp tin tức, thời sự) mà pháp luật vẫn yêu cầu một mức độ sáng tạo thối thiểu nhất. Ngoài ra, Luật sở hữu trí tuệ nói chung là một ngành luật chuyên ngành của hệ thống Luật dân sự. Nghĩa là, quyền tác giả ngoài đƣợc bảo vệ theo luật chuyên ngành còn đƣợc bảo vệ theo luật gốc nữa.
Theo đó, quyền tác giả đƣợc bảo hộ theo những nguyên tắc chung của luật dân sự. Do vậy, Nhà nƣớc không bảo hộ các tác phẩm có nội dung trái luật, tráo đạo đức và đi ngƣợc lại với lợi ích của Nhà nƣớc và lợi ích công cộng [8, tr55]. Chẳng hạn những tác phẩm xâm phạm quyền của ngƣời khác, bôi nhọ, xuyên tạc sự thật, chống phá Nhà nƣớc… sẽ không đƣợc bảo vệ. Cuối cùng, nếu tìm hiểu quyền tác giả về khía cạnh nội dung của chúng thì Luật SHTT chia quyền tác giả làm hai loại quyền là quyền tài sản và quyền nhân thân.
9 Quyền nhân thân là những quyền gắn liền với giá trị nhân thân của tác giả bao gồm: quyền đƣợc đặt tên tác phẩm, đứng tên trên tác phẩm và quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm. Tác phẩm là những đứa con tinh thần của tác giả, cũng giống nhƣ việc cha mẹ đặt tên cho con cái, đặt tên tác phẩm là một quyền hiển nhiên của các tác giả. Tác phẩm ảnh hƣởng trực tiếp đến uy tín và danh dự của tác giả, do đó khi có bất cứ sự sửa đổi, xuyên tạc nào mà không đƣợc phép sẽ ngay lập tức ảnh hƣởng đến uy tín của ngƣời đó. Chính vì thế mà để đảm bảo danh dự của tác giả, quyền “bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm” rất cần thiết.
Ngoài ra, tác giả còn có quyền khác đó là “công bố tác phẩm”. Tuy nhiên, quyền này có đặc thù khác với những quyền nhân thân khác khi mà tác giả có thể chuyển giao cho ngƣời khác thực hiện. Các quyền nhân thân tồn tại một cách độc lập đối với quyền tài sản, gắn liền với tác giả kể cả khi quyền sử dụng, quyền định đoạt đƣợc chuyển giao cho chủ thể khác. Các quyền này đƣợc bảo hộ vô thời hạn.
Quyền tài sản là những quyền sử dụng và quyền khai thác các giá trị của tác phẩm và có thể chuyển giao cho ngƣời khác thực hiện.Tác giả có thể tự mình hoặc cho phép ngƣời khác thực hiện các quyền này, bất kỳ một chủ thể nào khai thác các lợi ích tài sản từ tác phẩm đều phải đƣợc phép và trả thù lao hợp lý cho tác giả. Việc khai thác, sử dụng tác phẩm có thể dƣới nhiều hình thức nhƣng các hành vi sử dụng tác phẩm quan trọng nhất có thể bao gồm: -Sao chép và phân phối, bán tác phẩm; -Công bố, phổ biến, phát thanh, truyền hình. Quyền này hay còn gọi là quyền truyền thông đến công chúng bao gồm các hành vi trình diễn, phân phối tác phẩm đến một số lƣợng ngƣời đáng kể; 10 -Dịch, phóng tác, cải biên, chuyển thể, tuyển tập, chú giải (quyền làm tác phẩm phái sinh) [11; tr9-10]. Kết luận, quyền tác giả có thể hiểu đƣợc là một tập hợp các quyền gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đƣợc quy định trong pháp luật có tính nguyên gốc (do chính tác giả trực tiếp làm ra hoặc sở hữu) và tính hình thức (bảo hộ hình thức thể hiện không bảo hộ ý tƣởng, nội dung sáng tạo).
Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc Một tác phẩm âm nhạc đƣợc hiểu theo nghĩa thông thƣờng là một tác phẩm trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật đƣợc thể hiện dƣới hình thức âm thanh. Từ điển thuật ngữ quyền tác giả, quyền liên quan có đề cập: “Tác phẩm âm nhạc đƣợc hiểu chung là một loại hình tác phẩm nghệ thuật, đƣợc bảo hộ quyền tác giả. Tác phẩm âm nhạc bao gồm tất cả các kết hợp âm thanh (tổ hợp) có hoặc không có lời, đƣợc trình diễn bằng các nhạc cụ, có hoặc không có giọng hát” [23, tr6]. Định nghĩa pháp lý về tác phẩm âm nhạc đƣợc quy định tại Điều 12, Nghị định 100/2006/NĐ-CP của Chính Phủ ban hành ngày 21/09/2006 quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều của Bộ Luật dân sự, Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan nhƣ sau “Tác phẩm âm nhạc là tác phẩm đƣợc thể hiện dƣới dạng nốt trong bản nhạc hoặc các ký tự âm nhạc khác có hoặc không có lời, không phụ thuộc vào việc trình diễn hay không trình diễn”.
Nhƣ vậy, định nghĩa pháp luật và định nghĩa của các tác giả có phần khác nhau, trong đó định nghĩa các tác giả đƣa ra có phần thể hiện đúng bản chất hơn khi chỉ ra hình thức của các tác phẩm âm nhạc là “sự kết hợp âm thanh”, trong khi định nghĩa chính thức của luật pháp lại chú trọng đến phƣơng pháp cụ thể hóa tác phẩm âm nhạc là “các nốt hoặc ký tự âm nhạc”. 11 Tuy nhiên, các kết hợp âm thanh không phải lúc nào cũng đƣợc biểu diễn cụ thể dƣới dạng các ký tự. Thế nhƣng, sự khác biệt đó là không đáng kể vì một tổ hợp âm thanh mà không đƣợc biểu diễn dƣới dạng ký tự nào thì sẽ rất khó đƣợc công nhận bảo hộ quyền tác giả vì khó để nhận biết, ghi nhớ, lƣu trữ, trình bày… Nhƣ vậy, quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc là tổng hợp các quyền nhân thân và quyền tài sản phát sinh khi một tác phẩm âm nhạc là một tổ hợp âm thanh đƣợc định hình dƣới dạng các nốt nhạc, ký tự âm nhạc khác dành cho tác giả khi họ tự mình bỏ công sức để sáng tạo nên tác phẩm đó (hoặc sở hữu theo các căn cứ mà pháp luật quy định). Các đặc điểm của quyền tác giả đối với các tác phẩm âm nhạc Thứ nhất, tác phẩm âm nhạc là một trong những loại hình tác phẩm đƣợc bảo hộ quyền tác giả, chính vì vậy mà quyền tác giả đối với tác phẩm âm nhạc cũng có những đặc điểm tƣơng tự đối với quyền tác giả nói chung của các tác phẩm khác.
Về chủ thể quyền. Chủ thể có quyền tác giả đối với tác phẩm nhạc bao gồm hai loại là tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả. Theo nhƣ quy định tại Điều 37, Luật SHTT thì chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả trong trƣờng hợp tác giả tự mình bỏ thời gian, tài chính, cơ sở vật chất – kỹ thuật của mình để sáng tạo ra tác phẩm. Đối với tác phẩm âm nhạc, tác giả của tác phẩm chính là ngƣời đã sáng tạo ra các tổ hợp âm thanh và định hình chúng bằng các ký tự âm nhạc.
Trƣờng hợp thứ hai, tác giả không phải là chủ sở hữu quyền tác giả. Trong trƣờng hợp này, nếu tác giả đƣợc trả công để sáng tạo hoặc tác giả là ngƣời của một pháp nhân tiến hành sáng tác dƣới danh nghĩa pháp nhân đó thì chủ sở hữu tác phẩm chính là pháp nhân trả tiền thuê. Hai trƣờng hợp trên đây, nội dung quyền tác giả của từng chủ thể sẽ khác nhau. Đối với tác phẩm 12 âm nhạc khi đã đƣợc biểu diễn, đƣợc định hình, ghi âm, ghi hình thì phát sinh cả quyền liên quan của các chủ sở hữu quyền liên quan.
Các chủ sở hữu quyền liên quan này chính là nghệ sĩ biểu diễn, ngƣời đã định hình tác phẩm âm nhạc trên bản ghi âm, ghi hình. Về nội dung. Theo ghi nhận tại Điều 18 Luật SHTT thì quyền tác giả gồm hai loại là quyền tài sản và quyền nhân thân và quy định chi tiết tại các Điều 19 và 20. Đối với tác phẩm âm nhạc, cả hai loại quyền này đều quan trọng và cần đƣợc bảo vệ nhƣ nhau.